- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Tuyết N. Chị Trần Thị Tuyết N được ly hôn với anh Tăng Văn Thiên B.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 131 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 97/2023/HNGĐ – ST Ngày: 26- 9 -2023 V/v "Ly hôn". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: bà Lê Thị Thận và ông Phạm Thành Đô
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
Ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 108/2023/TLST- HNGĐ, ngày 17 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 223/2023/QĐXX - ST ngày 23 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Trần Thị Tuyết N, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Ấp T, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Phước.
-Bị đơn: anh Tăng Văn Thiên B, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Ấp T, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Phước.Nơi ở hiện tại: Thôn 2, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước
(Nguyên đơn chị N có mặt, bị đơn anh B vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 03/02/2023 và trong quá trình thụ lý vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Tuyết N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Tăng Văn Thiên B tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Phước theo giấy đăng ký kết hôn số 40, ngày 01/6/2009. Đến năm 2022, vợ chồng chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi vã, đánh đập, chị và anh B đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, mạnh ai nấy sống, không có sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ, kinh tế độc lập. Nay chị thấy không còn tình cảm với anh B. Chị yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng giải quyết cho chị được ly hôn với anh Tăng Văn Thiên B.
Về con chung: Chị và anh B có hai người con chung, họ tên là Tăng Khánh N1, sinh ngày 25/11/2009 và Tăng Thiên P, sinh ngày 17/12/2016. Chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu Tăng Khánh N1 và Tăng Thiên P.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tư khai và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Tăng Văn Thiên B trình bày: Anh và chị Trần Thị Tuyết N tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2009, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Phước theo giấy đăng ký kết hôn số 40, ngày 01/6/2009. Trong thời gian chung sống vợ chồng anh chị thường xảy ra cãi vã, thỉnh thoảng xảy ra xô xát, nguyên nhân là do anh chị mâu thuẫn trong cách ứng xử, sinh hoạt hàng ngày. Anh và chị N đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2022 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân kinh tế độc lập, không có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nay chị N yêu cầu ly hôn thì anh muốn chị N suy nghĩ lại cùng chúng sống để nuôi dưỡng con chung của anh chị.
Về con chung: Anh và chị N có hai người con chung, họ tên là Tăng Khánh N1, sinh ngày 25/11/2009 và Tăng Thiên P, sinh ngày 17/12/2016. Anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu Tăng Khánh N1 và Tăng Thiên P. Hiện nay anh đang ở nhà thuê, kinh doanh xây dựng, chưa có nhà ở riêng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Theo đơn khởi kiện của chị Trần Thị Tuyết N yêu cầu được ly hôn với anh Tăng Văn Thiên B có nơi ở hiện nay tại thôn 2, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Chị N và anh B chung sống có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Hội đồng xét xử nhận thấy đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn. Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
Bị đơn anh B đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ theo quy định pháp luật nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.
Xét về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị N yêu cầu ly hôn với anh B, Hội đồng xét xử xét thấy:
Chị N và anh B tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn ngày 01/6/2009 tại UBND thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Phước theo quy định pháp luật. Trong thời gian chung sống do vợ chồng không có sự hòa hợp, bất đồng quan điểm sống trong tiếng nói sinh hoạt hàng ngày, xảy ra cãi vã, xô xát lẫn nhau, chị và anh B đã sống ly thân một khoảng thời gian. Trong thời gian sống ly thân chị N và anh B không có sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ lẫn nhau, dẫn đến hôn nhân không đạt được mục đích. Như vậy, chị N và anh B đã có sự vi phạm về nghĩa vụ của người vợ, người chồng đối với nhau; cụ thể: không có sự thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, chung sống với nhau. Đối chiếu với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xét thấy hôn nhân giữa chị N và anh B lâm vào tình trạng trầm trọng, hôn nhân không đạt được mục đích, nay chị N yêu cầu ly hôn với anh B. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Về con chung: Chị N và anh B có hai người con chung, họ tên là Tăng Khánh N1, sinh ngày 25/11/2009 và Tăng Thiên P, sinh ngày 17/12/2016. Chị N và anh B đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu Tăng Khánh N1 và Tăng Thiên P. Căn cứ Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình quy định việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn “nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên phải xem xét nguyện vọng của con”. Xét thấy, tại biên bản lời khai cháu Nam có nguyện vọng được ở với mẹ là chị N, mặt khác hiện nay để đảm bảo sự ổn định cho các cháu về nơi ở, học tập, vì vậy cần giao cháu Tăng Khánh N1 và Tăng Thiên P cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản và nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Đương sự phải chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 51; Điều 56; Điều 81,82,83,84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Điều 28; Điều 35; Điều 147; Điều 131 Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án ngày 30/12/2016.
1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Tuyết N. Chị Trần Thị Tuyết N được ly hôn với anh Tăng Văn Thiên B.
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 40, ngày 01/6/2009 của Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Phước không còn hiệu lực khi Bản án hôn nhân gia đình về việc ly hôn của anh chị có hiệu lực pháp luật.
2.Về con chung: Giao cháu Tăng Khánh N1, sinh ngày 25/11/2009 và Tăng Thiên P, sinh ngày 17/12/2016 cho chị Trần Thị Tuyết N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom hoặc cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.
3.Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
4.Về tài sản và nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
5.Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn chị Trần Thị Tuyết N phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp trước là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0017718, ngày 13 tháng 3 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Bình Phước.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Nơi Nhận:
| - TAND tỉnh Bình phước; - VKSND h. Bù Đăng; - CC THADS h. Bù Đăng; - UBND xã (thị trấn); - Đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Thu Hà |