- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn D phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Lò Văn D 01( Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG T TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 97/2022/HSST Ngày 14/07/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG T- TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Bà Lò Thị Chiến
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Đại bà Lý Thị The
Thư ký phiên toà: Ông Đới Xuân Huy - Thư ký Toà án nhân dân huyện
Mường T, tỉnh Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T tham gia phiên toà:
Ông: Lương Gia Khánh- Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 07 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 96/2022/TLST-HS, ngày 22/06/2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2022/QĐXXST-HS ngày 01/07/2022 đối với bị cáo: 1. Họ và tên: Lò Văn D; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam;
Sinh năm 1994; tại huyện Mường T, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản Mường T, xã Mường T, huyện Mường T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Lò Văn Ch, sinh năm: 1970, trú tại: bản Mường T, xã Mường T, huyện Mường T, tỉnh Lai Châu; và con bà Đao Thị Th, sinh năm: 1972, trú tại: bản Mường T, xã Mường T, huyện Mường T, tỉnh Lai Châu; Bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con thứ hai. Vợ: Vùi Thị H, sinh năm: 1998, trú tại: bản Mường T, xã Mường T, huyện Mường T, tỉnh Lai Châu; Bị cáo có 02 con. Con lớn nhất sinh năm 2017 và con nhỏ nhất sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/3/2022 cho đến nay tại xã Mường T, huyện Mường T, tỉnh Lai Châu. Có mặt.
* Người bị hại: Công ty cổ phần công trình Viettel - Người đại diện theo pháp luật: Ông Trấn Đình M, Phó giám đốc kỹ thuật. Nơi cư trú khu ph 12, thị trấn Mường T, huyện Mường T, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt có lý do.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Đức T, sinh năm 1992. NĐKHKTT: Thôn Gia H 1, xã An V, huyện Quỳnh Ph, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
Anh Lò Văn T - Sinh năm Nơi cư trú: Bản Mường T, xã Mường T, huyện Mường T, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do Lò Văn D trong lúc đi bẫy chim đã phát hiện tại trạm phát sóng Viettel thuộc bản Nậm C, xã Mường T (do anh Nguyễn Đức T, nhân viên kỹ thuật của công ty Viettel Lai Châu được giao trực tiếp quản lý, bảo vệ) có để nhiều bình ắc-quy, nên D đã nảy sinh ý định trộm cắp để bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 21 giờ ngày 18/01/2022, D một mình điều khiển xe máy Sirius màu trắng - đen biển kiểm soát 25M1 - 072.84 đi từ nhà ở bản Mường T đến trạm phát sóng Viettel thuộc bản Nậm C, xã Mường T để lấy trộm các bình ắc-quy mà D đã nhìn thấy trước đó. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến đoạn đường cách trạm phát sóng Viettel khoảng 50m, D để xe lại rồi đi bộ vào bên trong trạm, sau đó đến gian phòng bên trái (theo hướng đi vào), thì thấy cửa chính của căn phòng được khóa bằng một ổ khóa Việt Tiệp màu đen, nên D đã quay lại chỗ để xe máy mở cốp xe lấy 01 thanh sắt phi 8, dài khoảng 15 cm và nhặt một hòn đá gần trạm phát sóng rồi phá bản lề và khóa cửa đi vào trong. Sau đó, D lần lượt bê 06 bình ắc-quy màu đen cùng có nhãn hiệu Narada-AG12V155F ra vị trí để xe máy, rồi cho 04 bình ắc-quy vào 02 bao tải mà D nhặt được dọc đường trước đó (mỗi bao tải đựng 02 bình ắc-quy). Sau đó D đặt 01 bao tải phía trước yên xe và 01 bao tải đặt phía sau xe rồi chở về nhà. 02 bình ắc-quy còn lại do nặng nên D cất giấu vào 01 bụi cây gần trạm phát sóng Viettel, nhằm mục đích quay lại lấy sau.
Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 19/01/2022, khi D điều khiển xe mô tô chở 04 bình ắc-quy về đến bản Mường T, xã Mường T thì gặp Tổ công tác Công an xã Mường T đang tuần tra, bảo vệ an ninh trật tự. Phát hiện D có nhiều biểu hiện nghi vấn, Tổ công tác đã yêu cầu D dừng xe lại để kiểm tra làm rõ nguồn gốc 04 bình ắc-quy mà D đang chở trên xe máy. Lúc này D đã khai nhận 04 bình ắc-quy là tài sản do D vừa trộm cắp tại trạm phát sóng Viettel tại bản Nậm C, xã Mường T. Sau đó, D cùng Tổ công tác Công an xã Mường T đến nơi đã cất giấu 02 bình ắc-quy còn lại. Trước sự việc trên, Tổ công tác đã lập biên bản sự việc và thu giữ toàn bộ vật chứng theo quy định.
Tại kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS ngày 26/02/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Mường T đã kết luận:
02 bình ắc-quy viễn thông Narada AG12v-155Ah, bị hại mua với giá 9.476.624 và đưa vào sử dụng ngày 05/08/2019 có trị giá là 6.204.932 đồng.
02 bình ắc-quy viễn thông Narada AG12v-155Ah, bị hại mua với giá 9.092.636 và đưa vào sử dụng ngày 01/04/2017 có trị giá là 2.922.633 đồng.
01 bình ắc-quy viễn thông Narada AG12v-155Ah, bị hại mua với giá 4.269.582 và đưa vào sử dụng ngày 11/03/2015 có trị giá 101.657 đồng.
01 bình ắc-quy viễn thông Narada AG12v-155Ah, bị hại mua với giá 4.269.582 và đưa vào sử dụng ngày 30/08/2015 có trị giá 355.799 đồng.
Tổng giá trị 06 bình ắc-quy Lò Văn D đã trộm cắp ngày 18/01/2022 tại trạm phát sóng Viettel thuộc bản Nậm C, xã Mường T là 9.585.021 đồng.
Cáo trạng số 55/ CT- VKS-MT ngày 31/05/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T truy tố bị cáo Lò Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lò Văn D và đề nghị với Hội đồng xét xử, tuyên bị cáo: Lò Văn D phạm tội "Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng khoản 1 điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 BLHS. Xử phạt bị cáo: Lò Văn D từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Lò Văn D. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Công ty cổ phần công trình Viettel - Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Đình M, Phó giám đốc kỹ thuật. Nơi cư trú khu ph 12, thị trấn Mường T, huyện Mường T, tỉnh Lai Châu và Nguyễn Đức T không yêu cầu Lò Văn D phải bồi thường gì nên không đề cập giải quyết. Về xử lý vật chứng: Chấp nhận về việc xử lý vật chứng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Mường T:
- Trả lại 06 bình ắc-quy cho Công ty cổ phần công trình Viettel - Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Đình M, Phó giám đốc kỹ thuật, cư trú khu ph 12, thị trấn Mường T, huyện Mường T, tỉnh Lai Châu.
- Trả lại chiếc xe máy xe máy Sirius màu trắng - đen biển kiểm soát 25M1 - 072.84 đây là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của anh Lò Văn T, trú tại bản Mường T, xã Mường T, huyện Mường T, tỉnh Lai Châu là hợp pháp.
Về án phí hình sự sơ thẩm đề nghị HĐXX áp dụng Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo rất hối hận về hành vi vi phạm pháp luật. Bị cáo nhất trí với bản luận tội, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với mức hình phạt thấp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T, Kiểm sát viên: Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có ai ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với với lời khai tại cơ quan Điều tra. Đủ cơ sở khẳng định bị cáo Lò Văn D, sinh năm 1994, trú tại bản Mường T, xã Mường T, huyện Mường T, tỉnh Lai Châu, Lợi dụng sơ hở trong việc trông coi, quản lý tài sản. Hồi 21 giờ 30 phút ngày 18/01/2022, tại trạm phát sóng Viettel thuộc bản Nậm C, xã Mường T, huyện Mường T, tỉnh Lai Châu. Lò Văn D đã trộm cắp 06 bình ắc-quy có tổng trị giá là 9.585.021 đồng của Công ty cổ phần Công trình Viettel chi nhánh Mường T, mục đích để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Như vậy, hành vi trộm cắp của bị cáo Lò Văn D đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của trạm phát sóng Viettel do đó bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 của BLHS năm 2015.
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, nhằm mục đích tư lợi cá nhân bị cáo Lò Văn D đã trộm cắp 06 bình ắc quy có trị giá 9.585.021 đồng của Công ty cổ phần Công trình Viettel chi nhánh Mường T, mục đích để tiêu xài cá nhân. Vì vậy bị cáo phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về hậu quả do hành vi mình đã thực hiện. Hội đồng xét xử cần phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe giáo dục đối với bị cáo.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự vì vậy bị cáo phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về hậu quả do hành vi mình đã thực hiện. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T truy tố bị cáo theo tội danh như trên là có căn cứ, đúng người, đúng hành vi bị cáo.
Tuy nhiên khi lượng hình Hội đồng xét xử cần phải xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường ít nghiêm trọng. HĐXX áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173 BLHS bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, xét thấy hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, không có tài sản, không có điều kiện thi hành, HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Công ty cổ phần công trình Viettel - Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Đình M, Phó giám đốc kỹ thuật. Nơi cư trú khu ph 12, thị trấn Mường T, huyện Mường T, tỉnh Lai Châu vắng mặt tại phiên tòa, tại cơ quan Điều tra, ý kiến của Công ty không yêu cầu Lò Văn D phải bồi thường gì nên không đề cập giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Chấp nhận về việc xử lý vật chứng của Cơ quan cảnh sát Điều tra - Công an huyện Mường T.
Trả lại 06 bình ắc- quy cho Công ty cổ phần Công trình Viettel chi nhánh Mường Tè, người đại diện ông Trần Đình M là phó giám đốc.
Trả lại chiếc xe máy xe máy Sirius màu trắng - đen biển kiểm soát 25M1 - 072.84 đây là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của anh Lò Văn T, trú tại bản Mường T, xã Mường T, huyện Mường T - Lai Châu là phù hợp với quy định pháp luật.
Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, Người bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331; Điều 333 BLTTHS.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Lò Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Lò Văn D 01( Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lò Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm: Có mặt bị cáo, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, quyết định của Tòa án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên được quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan đến quyền lợi của mình lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - CA huyện Mường T - THAHS; - VKSND huyện Mường T; - THADS huyện Mường T; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên; - Lưu hồ sơ. | T/M Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đã ký Lò Thị Chiến |