- Tranh chấp gì? án hình sự — "Làm giả tài liệu của cơ quan, nhà nước - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ q…"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Căn cứ chính? Điều 341 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 97/2022/HS-ST. Ngày 25 - 8 - 2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: -Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuyên.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Chí Trung và ông Phạm Quang Man. Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Nhung - Là Thư ký của Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Trương Hoàng Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 88/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2022, đối với bị cáo:
Phạm Văn T, sinh năm 1999 tại Hưng Yên; nơi cư trú: thôn TT, xã TV, huyện KĐ, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn C, sinh năm 1968 và bà Tào Thị H, sinh năm 1971; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện đang được tại ngoại tại địa phương theo Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1994; trú tại: đội 14, thôn HQ, xã HT, huyện MĐ, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
* Người chứng kiến: Anh Phạm Văn A, sinh năm 1979; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu năm 2022, Phạm Văn T sử dụng tài khoản Facebook tên “Phạm T” để vào trang Facebook hội nhóm “Mua, bán các loại giấy tờ”. T đặt mua của 01 người đàn ông 02 lần, mỗi lần 50 tờ giấy khám sức khỏe giả có dấu đỏ ghi dòng chữ “BỘ Y TẾ - BỆNH VIỆN BẠCH MAI” có chữ ký, đóng dấu chức vụ của các bác sĩ chuyên khoa, nhưng chưa ghi họ tên, thông tin người được khám và ngày khám, giá 25.000 đồng/01 tờ, mục đích để bán lại cho những người có nhu cầu nhằm thu lợi bất chính. Sau khi nhận giấy khám sức khỏe giả, T đăng thông tin lên trang Facebook hội nhóm “Mua, bán các loại giấy tờ” để rao bán giấy khám sức khỏe giả của Bệnh viện Bạch Mai với giá bán từ 100.000 đồng/01 tờ đến 120.000 đồng/01 tờ. Khi có người cần mua giấy khám sức khỏe giả, T sử dụng số điện thoại 0888.185.622 để giao dịch và hẹn giao “hàng” ở địa điểm ngoài đường. Nhận tiền xong, T đều xóa hết thông tin của những người mua này. Đến khoảng tháng 4/2022, T đã bán được 83 tờ giấy khám sức khỏe giả của Bệnh viện Bạch Mai cho nhiều người mua ở tỉnh Hưng Yên và tỉnh Hà Nam, thu về số tiền khoảng 9.000.000 đồng, sử dụng tiêu sài cá nhân hết.
Khoảng cuối tháng 3 năm 2022, có người đàn ông ở khu Công nghiệp Châu Sơn, thành phố Phủ Lý đặt mua của T 05 tờ giấy khám sức khoẻ giả của Bệnh viện Bạch Mai, T đồng ý. Ngày 09/4/2022, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS: 89B1-847.49 mang theo 16 tờ giấy khám sức khỏe giả của Bệnh viện Bạch Mai đi đến thành phố Phủ Lý để bán. Khoảng 15 giờ 40 phút cùng ngày, khi T đang đứng chờ người mua tại khu vực vỉa hè phía trước nhà văn hóa thuộc tổ dân phố Do Nha, phường Châu Sơn, thành phố Phủ Lý thì bị tổ công tác của Đội Cảnh sát kinh tế - Công an thành phố Phủ Lý yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra lực lượng Công an phát hiện trên xe mô tô biển kiểm soát 89B1-847.49 có treo 01 túi nilon màu xanh, bên trong có các tờ giấy khám sức khỏe có đóng dấu tròn đỏ ghi chữ “BỘ Y TẾ - BỆNH VIỆN BẠCH MAI” ở trang số 1 và trang số 3 không ghi tên người khám. Tại mục II và III đã ghi thông tin nội dung khám và có chữ kí xác nhận và đóng dấu họ tên của các bác sỹ chuyên khoa.
* Vật chứng, tài sản thu giữ gồm:
- 16 tờ giấy khám sức khỏe có đóng dấu tròn đỏ ghi chữ “BỘ Y TẾ - BỆNH VIỆN BẠCH MAI” ở trang số 1 và trang số 3 không ghi tên người khám. Tại mục II và III đã ghi thông tin nội dung khám và có chữ kí xác nhận và đóng dấu họ tên các bác sĩ Bùi Ngọc Oanh, Trương Thị Thúy Nga, Ngô Thanh, Phạm Thị Hương, Phạm Thị Hương Giang, Nguyễn Đình Thái, Nguyễn Duy Nhạn, được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1.
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda, loại SH 125I, biển kiểm soát 89B1-847.49; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Phạm Thị T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max.
Ngày 09/4/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Phạm Văn T tại số 5 Vũ Lãm, phường Hiến Nam, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên. Quá trình khám xét thu giữ 01 tờ giấy khám sức khỏe ghi “BỘ Y TẾ - BỆNH VIỆN BẠCH MAI”, có đóng 03 dấu tròn đỏ ghi chữ “BỘ Y TẾ - BỆNH VIỆN BẠCH MAI”, không ghi thông tin của người khám sức khỏe. Các nội dung khám lâm sàng, khám cận lâm sàng, khám thể lực, kết luận đã được ghi thông tin khám và có chữ ký xác nhận của các bác sĩ khám. Người kết luận có chữ ký và ghi tên GSTS Nguyễn Quang Tuấn, được niêm phong trong phong bì ký hiệu A2.
Ngày 19/4/2022, Bệnh viện Bạch Mai cung cấp mẫu giấy chứng nhận sức khỏe và 06 hình mẫu dấu của Bệnh viện và ra công văn số 979/BVBM-KHTH trả lời Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý các nội dung như sau:
1. Bệnh viện hiện không có: Bác sỹ CKI Bùi Ngọc Oanh, BS Ngô Thanh, bác sỹ CK. Phạm Thị Hương, BSCK. Phạm Thị Hương Giang, BSCK. Nguyễn Đình Thái. Vì vậy, Bệnh viện không có chữ ký để cung cấp cho cơ quan Công an.
2. GS.TS. Nguyễn Quang Tuấn, trước đây là Giám đốc Bệnh viện nhưng đã thôi việc theo Quyết định số 5778/QĐ-BYT ngày 20/12/2021 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
3. Bệnh viện có Ths.Bs. Trương Thị Thúy Nga, Thạc sĩ Nguyễn Duy Nhạn, hiện đang công tác tại Khoa Khám bệnh. Ths.Bs. Trương Thị Thúy Nga có chuyên môn khám, chữa bệnh chuyên khoa nội Tim mạch, Ths. Nguyễn Duy Nhạn có chuyên môn khám, chữa bệnh chuyên khoa Nội tổng hợp. Ths. Nguyễn Duy Nhạn có thẩm quyền ký kết luận khám.
4. Giấy chứng nhận sức khỏe của Bệnh viện Bạch Mai thực hiện theo mẫu quy định tại Phụ lục 1- Thông tư số 14/2013/TT-BYT ngày 06/5/2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Ngày 07/5/2022, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam có kết luận giám định số 189/KL-KTHS, kết luận:
1. Hình dấu tròn có nội dung “BỆNH VIỆN BẠCH MAI” trên tài liệu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A17 so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên tài liệu mẫu ký hiệu M không phải do cùng một con dấu đóng ra.
2. Chữ ký đứng tên Ths.Bs. Trương Thị Thúy Nga dưới mục “Họ tên, chữ ký của Bác sỹ” trên tài liệu cần giám định ký hiệu từ A2 đến A17 khác dạng so với chữ ký của Ths.Bs. Trương Thị Thúy Nga trên tài liệu mẫu ký hiệu M nên không đủ cơ sở kết luận có phải do cùng một người ký ra hay không.
3. Chữ ký đứng tên Thạc sỹ Nguyễn Duy Nhạn dưới mục “Họ tên, chữ ký của Bác sỹ”, “NGƯỜI KẾT LUẬN” trên tài liệu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A17 khác dạng so với chữ ký của Ths Nguyễn Duy Nhạn trên tài liệu mẫu ký hiệu M nên không đủ cơ sở kết luận có phải do cùng một người ký ra hay không.
Từ nội dung trên, bản cáo trạng số: 92/CT-VKS-PL ngày 25/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố Phạm Văn T về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như đã nêu trong bản cáo trạng, không thay đổi, bổ sung gì thêm. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 50 của Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng Điều 35; khoản 4 Điều 341 của Bộ luật Hình sự: Phạt Phạm Văn T từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước. Đề nghị truy thu của Phạm Văn T số tiền 9.000.000 đồng do bán trái phép giấy khám sức khỏe giả thu lời bất chính.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án 17 tờ giấy khám sức khỏe có đóng dấu tròn đỏ ghi chữ “BỘ Y TẾ - BỆNH VIỆN BẠCH MAI” ở trang số 1 và trang số 3 không ghi tên người khám; tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng.
- Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện tương tự như bản cáo trạng đã truy tố và nhất trí với bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã công bố tại phiên tòa. Bị cáo không tranh luận bào chữa gì. Lời nói sau cùng bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố: Những người tiến hành tố tụng này đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với người tham gia tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.
Đánh giá về tội danh: Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra. Hội đồng xét xử thấy cơ bản phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người chứng kiến về diễn biến vụ án, kết luận giám định cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được cơ quan điều tra thu thập.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng đầu năm 2022, Phạm Văn T đăng thông tin, rao bán giấy khám sức khỏe giả lên mạng xã hội Facebook, nhằm mục đích bán cho những người cần mua ở tỉnh Hưng Yên và tỉnh Hà Nam để thu lợi bất chính. Ngày 09/4/2022, T mang theo 16 tờ giấy khám sức khỏe giả đến khu vực Nhà văn hóa thuộc tổ dân phố Do Nha, phường Châu Sơn, thành phố Phủ Lý để bán cho một người đàn ông không quen biết đã hẹn mua, thì bị tổ công tác của Đội Cảnh sát kinh tế - Công an thành phố Phủ Lý phát hiện, thu giữ. Ngoài ra, T còn cất giữ 01 tờ giấy khám sức khỏe giả ở nhà trọ tại số 5, phố Vũ Lãm, phường Hiến Nam, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên mục đích để bán cho người khác kiếm lời.
Hành vi nêu trên của Phạm Văn T đã phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đối với bị cáo như bản cáo trạng đã nêu là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Đánh giá về hình phạt:
- Hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Văn T là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn bình thường của các cơ sở khám, chữa bệnh trong hoạt động quản lý hành chính. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là sai trái nhưng vẫn thực hiện để kiếm lời. Hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố Phủ Lý, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải ra một bản án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành một công dân tốt. Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo và xem xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt. Điều này thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội lần đầu biết ăn năn hối cải.
- Hình phạt bổ sung: Xét mục đích phạm tội của bị cáo để kiếm lời nên cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Điều 35; khoản 4 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 17 tờ giấy khám sức khỏe có đóng dấu tròn đỏ ghi chữ “BỘ Y TẾ
- BỆNH VIỆN BẠCH MAI” ở trang số 1 và trang số 3 không ghi tên người khám do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý thu giữ khi lập biên bản vụ việc và quá trình khám xét cần tiếp tục được lưu trong hồ sơ vụ án làm căn cứ giải quyết vụ án.
- Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại SH 125I, BKS: 89B1-847.49 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Phạm Thị T là tài sản thuộc quyền sở hữu của chị T. Chị T cho T mượn chiếc xe mô tô trên để làm phương tiện đi lại, không biết T sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đã trả lại chiếc xe mô tô trên và giấy chứng nhận đăng ký xe cho chị T là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng (cũ đã qua sử dụng) là tài sản của Phạm Văn T, Phạm Văn T sử dụng làm công cụ dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
Về truy thu số tiền thu lời bất chính:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Phạm Văn T đều xác định từ đầu năm 2022 đến nay đã bán được khoảng 83 tờ giấy khám sức khỏe, thu về số tiền 9.000.000 đồng và đã tiêu sài cá nhân hết. Xét thấy đây là số tiền thu lời bất chính nên cần truy thu số tiền này sung Ngân sách Nhà nước.
Về các tình tiết khác:
- Đối với nguồn gốc các tờ giấy khám sức khỏe giả: Phạm Văn T khai mua 02 lần, mỗi lần 50 tờ giấy khám sức khỏe giả của một người (không rõ nhân thân, lai lịch) trên mạng xã hội Facebook, người này gửi về cho T thông qua dịch vụ Bưu điện, T không còn lưu thông tin gì về người này. Ngoài lời khai của T, không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.
- Đối với người đàn ông ở khu Công nghiệp Châu Sơn, thành phố Phủ Lý đã đặt mua 05 tờ giấy khám sức khỏe giả và những người đã mua 83 tờ giấy khám sức khỏe giả của Phạm Văn T ở tỉnh Hưng Yên và tỉnh Hà Nam, Phạm Văn T không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu, sau khi mua, bán xong T đều đã xóa hết thông tin của những người này. Ngoài lời khai của T, không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để giải quyết trong vụ án này.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 65; Điều 47; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
[2] Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/8/2022).
Giao bị cáo Phạm Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Thọ Vinh, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Hình phạt bổ sung: Phạt Phạm Văn T 1.000.000đ (một triệu đồng) sung Ngân sách Nhà nước.
[3] Về vật chứng:
- Tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án 17 tờ giấy khám sức khỏe có đóng dấu tròn đỏ ghi chữ “BỘ Y TẾ - BỆNH VIỆN BẠCH MAI” ở trang số 1 và trang số 3 không ghi tên người khám.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng (tình trạng như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 04 tháng 8 năm 2022).
- Truy thu của bị cáo Phạm Văn T 9.000.000đ (chín triệu đồng) sung Ngân sách Nhà nước.
[4] Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phạm Văn T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND thành phố Phủ Lý; - Cơ quan CSĐT Công an TP Phủ Lý; - Cơ quan THAHS có thẩm quyền; - Chi cục Thi hành án dân sự TP Phủ Lý; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ đến vụ án; - Lưu hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Xuyên |