vanban.org

Bản án 97/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 29/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách của án treo: “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án tre…

Tịch thu tiêu hủy: 296 cây = 2.960 bao thuốc lá các loại do nước ngoài sản xuất và 72 cây = 720 bao thuốc lá do Việt Nam sản xuất, được niêm phong trong 08 thùng bìa cát tông. Bên ngoài 08 thùng cát tông được dán giấy A4 có dòng chữ “Vật chứng trong vụ án: “Trần Mạnh H sinh ngày 18/2/1990 bị bắt quả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A N - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách của án treo: “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án tre…
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LÀO CAI,
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2022/HS-ST
Ngày 29 – 8 – 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Mai Phương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Mã Thị Vui

2. Bà Vũ Thị Lan Hương

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Khánh Nguyệt – Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 60/2022/HSST ngày 27 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 71/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Bị cáo: VÀNG A N - Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

Sinh ngày: 20/12/1989, tại huyện B, tỉnh Lào Cai.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Giáy; Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 05 /12

Tiền sự: Không.

Tiền án: Có 01 tiền án. Tại bản án số 69/2021/HSST ngày 07/12/2021 của TAND tỉnh Hà Giang xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Mua bán trái phép thông tin về tài khoản Ngân hàng”.

Con ông Vàng A T và bà Sìn Thị X

Bị cáo có vợ là Lù Thị L, đã ly hôn năm 2020 và có 02 người con, con lớn sinh 2011, con nhỏ sinh 2013.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 25/01/2022, tạm giam ngày 28/01/2022. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt

2. Bị cáo: TÔ VĂN A - Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam

Sinh ngày: 12/8/1980, tại Lục Ngạn, Bắc Giang.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xã Q, huyện B, tỉnh Lào Cai.

Nơi ở: phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Cao Lan; Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 7/12

Tiền sự: Không.

Tiền án: Có 01 tiền án. Tại bản án số 01/2021/HSST ngày 21/01/2021 của Toà án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, xử phạt Tô Văn A 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 02 năm 06 tháng về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”.

Con ông Tô Văn C và bà Nùng Thanh H

Bị cáo có vợ là Đỗ Chung T đã ly hôn năm 2015 và có có 02 người con: Con lớn sinh 2006, con nhỏ sinh 2011.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 15/01/2022, tạm giam ngày 22/01/2022. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt.

3. Bị cáo: TRẦN MẠNH H - Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam

Sinh ngày: 18/02/1990 tại Yên Bình, tỉnh Yên Bái.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xã Bản C, huyện B, tỉnh Lào Cai.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12

Tiền sự: Không; Tiền án: Không.

Con ông Trần Quang V và bà Nguyễn Thị T

Bị cáo có vợ: Lý Thị H và có 01 người con sinh năm 2016. Hiện trú tại: Thôn Nậm Choỏng, xã Bản Cầm, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 07/01/2022. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt

4. Người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Anh Dương Quang T

Địa chỉ: phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Có mặt

- Anh Nguyễn Quốc V

Địa chỉ: phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 23 giờ 30 phút ngày 06/01/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai, bắt quả tang Trần Mạnh H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 88C-00.400 đang dừng đỗ tại khu vực đường A1, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai, trên thùng xe chở 15 bao tải xác rắn màu đen, trong đó: 14 bao bên trong có các lớp túi ni lông chứa 26 thùng bìa các tông, trong 26 thùng bìa các tông có chứa các loại thuốc lá điếu thành phẩm; 01 bao bên trong có 02 bọc túi ni lông, mỗi bọc chứa 03 thùng bìa các tông, trong 06 thùng bìa các tông có chứa 992 hộp nhỏ.

14 bao tải sắc rắn bên trong có 26 thùng bìa cát tông chứa các loại thuốc lá điếu thành phẩm, xác định được cụ thể như sau:

+ Của bị cáo : Tổng số: 937 cây = 9.370 bao thuốc lá các loại đều không có dán tem và chữ tiếng Việt. 160 cây thuốc lá „555 SILVER90‟ có dán tem và có chữ tiếng Việt.

+ Của bị cáo Tô Văn A và Trần Mạnh H: Tổng số 386 cây = 3.860 bao thuốc lá các loại đều không có dán tem và chữ tiếng Việt. 99 cây thuốc lá „Marlboro flavor code‟ có dán tem và chữ tiếng Việt;

Tại bản kết luận giám định số 208/C09-P2 ngày 10/01/2022 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Toàn bộ các loại thuốc lá điếu không có dán tem và chữ tiếng Việt được sản xuất tại nước ngoài và không được tiêu thụ tại Việt Nam. Theo thông tư 124/2007/TT-BTC ngày 26/10/2007 của Bộ Tài chính thuốc lá điếu nhập khẩu vào Việt Nam phải có tem “thuốc lá điếu nhập khẩu” do Bộ tài chính nước cộng Hoà XHCN Việt Nam phát hành và dán tem trên từng bao. Đối với số thuốc lá có dán tem và có chữ tiếng việt là thuốc lá điếu được sản xuất và tiêu thụ hợp pháp tại Việt Nam.

Tại bản kết luận giám định số 110/GĐMT ngày 06/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: Các chất bột màu trắng chứa trong 992 lọ thủy tinh không phải là chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy.

Bị cáo , Tô Văn A, Trần Mạnh H khai nhận:

Ngày 05/01/2022, Tô Văn A nhận cuộc gọi qua ứng dụng Vichat từ A Sùng (là người quen của Tô Văn A ở Trung Quốc) thuê Tô Văn A đến văn phòng xe Sao Việt (đường Hợp Thành, phường Lào Cai, thành phố Lào Cai) nhận hàng thuốc lá do A Sùng mua tại Việt Nam gửi qua Văn Phòng xe Sao Việt gồm: 01 thùng xốp và 02 bao tải hàng và tại cửa hàng bán thuốc lá của bà Trần Kim Minh, địa chỉ tổ 17, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai chở 02 thùng thuốc lá nhãn hiệu “Marlboro flavor code” do Việt Nam sản xuất về đóng gói vận chuyển sang Trung Quốc, A Sùng trả công cho Tô Văn A 900.000đ/1 thùng, Tô Văn A đồng ý. Tô Văn A gọi điện cho Trần Mạnh H bảo Trần Mạnh H đi chở thuốc lá của A Sùng và 01 bao hàng do Đỗ Thị Duyên (Không biết là hàng gì) thuê vận chuyển sang Trung Quốc với giá 900.000đồng, tại số 414 đường Nhạc Sơn, phường Kim Tân, thành phố Lào Cai, về nhà Tô Văn A thuê tại tổ 2, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai tập kết ở đó, để đóng gói vận chuyển sang Trung Quốc, Trần Mạnh H đồng ý. Sau khi Trần Mạnh H nhận hàng về, Tô Văn A và Trần Mạnh H mở toàn bộ số hộp cát tông và bao tải hàng ra để đóng gói gồm: 386 cây thuốc lá nhãn hiệu “Marlboro flip – top – box FIRM FILTER ROUND TASTE‟‟- „MEVIUS OPTION PURPLE‟‟ và “Marlboro PURPLE BURST‟‟ do nước ngoài sản xuất và 99 cây thuốc lá nhãn hiệu “Marlboro flavor code” do Việt Nam sản xuất. Sau đó cả hai đóng toàn bộ số thuốc lá trên vào 08 thùng bìa cát tông rồi cho vào 05 bao tải xác rắn màu đen cùng 01 bao tải xắc rắn hàng của Đỗ Thị Duyên gửi. Tổng số 6 bao tải hàng để vận chuyển sang Trung Quốc lấy tiền công.

Ngày 06/01/2022, một người phụ nữ tên Phương, hiện đang sinh sống ở Hà Khẩu, Vân Nam, Trung Quốc và Dương Quang T ở 045, đường Lê Lợi, thành phố Lào Cai gọi điện thoại cho , thuê vận chuyển thuốc lá sang Trung Quốc với giá 1.100.000đ/1thùng và gửi số điện thoại, địa chỉ nơi gửi hàng của Phương cho là nhà bà Mai Thị Lý, số 003, đường Trần Nguyên Hãn, và số 011 đường Triệu Quang Phục, phường Lào Cai, nơi để hàng của Dương Quang T ở 045, đường Lê Lợi, đồng ý. thuê Nguyễn Hoàng Anh (là lái xe taxi) đến địa chỉ trên chở hàng về khu vực đồi cây thuộc tổ 7, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai, không nói cho Nguyễn Hoàng Anh biết là hàng gì.

Nguyễn Hoàng Anh đến địa chỉ do cho, chở toàn bộ số hàng trên đến khu vực đỉnh dốc thuộc tổ 7, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai cho . nhờ Hoàng A Phúc và Nguyễn Viết Quang đến đóng hàng vào hộp giúp . Hoàng A Phúc và Nguyễn Viết Quang đóng toàn bộ số hàng do Nguyễn Hoàng Anh chở đến được 09 bao tải, rồi cả hai đi về nhà. gọi điện thoại cho Nguyễn Quốc V, là người quen của nói có 09 bao hàng, nhưng không nói là hàng gì và cho địa chỉ nơi để hàng để khi nào có xe thì Nguyễn Quốc V bảo lái xe đến bốc hàng cho , để vận chuyển sang Trung Quốc lấy tiền công.

Khoảng 19 giờ ngày 06/01/2022, Tô Văn A gọi điện cho Nguyễn Quốc V nhờ thuê xe để vận chuyển hàng, Nguyễn Quốc V đã cho Tô Văn A số điện thoại của anh Triệu Văn Thành để Tô Văn A liên lạc với anh Triệu Văn Thành thuê xe ô tô, Nguyễn Quốc V nói với Tô Văn A, có 09 bao hàng và cho địa chỉ nơi để hàng, để Tô Văn A thuê được xe thì chở luôn hàng cho . Tô Văn A gọi điện thoại cho anh Triệu Văn Thành thuê xe ô tô biển kiểm soát 88C-00.400 của anh Triệu Văn Thành, sau đó Tô Văn A gửi số điện thoại của anh Triệu Văn Thành cho Trần Mạnh H và bảo Trần Mạnh H đi đến khu vực cây xăng Đức Đa lấy xe đi chở 05 bao tải xắc rắn màu đen đựng thuốc lá do Tô Văn A và Trần Mạnh H đã đóng gói cùng 01 bao tải xắc rắn hàng của Đỗ Thị Duyên gửi để vận chuyển sang Trung Quốc và bảo Trần Mạnh H đến đỉnh dốc thuộc tổ 7, phường Duyên Hải gần khách sạn ROYOL chở 09 bao tải hàng của , Tô Văn A và Trần Mạnh H đều không biết 09 bao tải hàng của là hàng gì. Trần Mạnh H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 88C-00.400 đi đón 6 người cửu vạn đi bốc toàn bộ số thuốc lá và số hàng trên lên xe rồi chở đến khu vực gần bờ Sông Hồng thuộc đường A1, phường Duyên Hải tập kết ở đó để vận chuyển sang Trung Quốc. Do không vận chuyển được hàng sang Trung Quốc, Trần Mạnh H đã gọi điện thông báo cho Tô Văn A, Tô Văn A bảo Trần Mạnh H đi lấy xe ô tô đến nơi tập kết hàng để bốc số hàng trên về, sau khi vừa bốc số hàng trên lên ôtô biển kiểm soát 88C-00.400 thì Trần Mạnh H bị Cơ quan điều tra bắt quả cùng toàn bộ tang vật.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo , Tô Văn A, Trần Mạnh H phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 191; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 05 năm 09 tháng đến 06 năm 09 tháng tù. Áp dụng Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt với bản án số 69/2021 ngày 07/12/2021 của Toà án nhân dân tỉnh Hà Giang đối với bị cáo.

Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 191; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Tô Văn A từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Áp dụng Điều 55, Điều 56, Điều 65 của Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt với bản án số 01 ngày 21/01/2021 của Toà án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai đối với bị cáo.

Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 191; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Mạnh H 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù. Áp dụng Điều 328 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên toà.

Về vật chứng: Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Tuyên án phí, quyền kháng cáo cho các bị cáo.

Bị cáo , Tô Văn A, Trần Mạnh H nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Ý kiến của người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Dương Quang T đã bị xử lý hành chính về hành vi vi phạm và không có ý kiến gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh Lào Cai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Ngày 06/01/2022, bị cáo Tô Văn A và Trần Mạnh H đã có hành vi vận chuyển 3.860 bao thuốc lá các loại do nước ngoài sản xuất không dán tem “thuốc lá điếu nhập khẩu” là hàng hóa không được tiêu thụ tại Việt Nam. Bị cáo đã có hành vi vận chuyển 9.370 bao thuốc lá các loại do nước ngoài sản xuất không dán tem “thuốc lá điếu nhập khẩu” là hàng hóa không được tiêu thụ tại Việt Nam, mục đích vận chuyển sang Trung Quốc để nhận tiền công thì bị bắt giữ. Đối với 9.370 bao thuốc lá do nước ngoài sản xuất, không dán tem “thuốc lá điếu nhập khẩu”, ngày 06/01/2022 bị cáo Trần Mạnh H đã vận chuyển cho bị cáo . Quá trình điều tra và tại phiên toà xác định: Khi được bị cáo Tô Văn A giao lái xe ôtô đến bốc 09 bao tải hàng của , Tô Văn A không biết là hàng gì và không nói với Trần Mạnh H là hàng gì, không nói với Tô Văn A, Trần Mạnh H là hàng gì, Trần Mạnh H không kiểm tra, nên không biết bên trong các bao tải xác rắn chứa thuốc lá, đến khi bị bắt bị cáo mới biết 09 bao tải hàng của là thuốc lá. Vì vậy, bị cáo Tô Văn A và Trần Mạnh H không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với việc vận chuyển 9.370 bao thuốc lá các loại do nước ngoài sản xuất không dán tem “thuốc lá điếu nhập khẩu” là hàng hóa không được tiêu thụ tại Việt Nam của bị cáo .

Như vậy, đủ căn cứ xác định, hành vi của bị cáo Tô Văn A và Trần Mạnh H đã cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm e khoản 2 Điều 191 của Bộ luật Hình sự “Thuốc lá điếu nhập lậu từ 3.000 bao đến dưới 4.500 bao”. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191 của Bộ luật Hình sự Thuốc lá điếu nhập lậu 4.500 bao trở lên”.

Bị cáo , Tô Văn A, Trần Mạnh H là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức và hiểu biết về pháp luật, các bị cáo biết rõ hành vi vận chuyển thuốc lá điếu sản xuất tại nước ngoài, không dán tem “thuốc lá điếu nhập khẩu” là hàng hóa không được tiêu thụ tại Việt Nam là vi phạm pháp luật. Nhưng các bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố Lào Cai.Vì vậy cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Về vai trò của các bị cáo:

Bị cáo Tô Văn A và Trần Mạnh H cùng nhau cố ý thực hiện hành vi vận chuyển 3.860 bao thuốc lá các loại do nước ngoài sản xuất không dán tem “thuốc lá điếu nhập khẩu” là hàng hóa không được tiêu thụ tại Việt Nam. Xác định 2 bị cáo đồng phạm mang tính chất giản đơn, vai trò của từng bị cáo như sau: Bị cáo Tô Văn A là người khởi xướng, rủ bị cáo Trần Mạnh H cùng đóng gói vận chuyển 05 bao tải xắc rắn bên trong chứa tổng số 3.860 bao thuốc lá các loại do nước ngoài sản xuất không dán tem “thuốc lá điếu nhập khẩu” là hàng hóa không được tiêu thụ tại Việt Nam để vận chuyển sang Trung Quốc, mục đích để lấy tiền công. Vì vậy bị cáo Tô Văn A phải chịu trách nhiệm với vai trò chính trong việc vận chuyển 3.860 bao thuốc lá điếu nhập lậu. Bị cáo Trần Mạnh H khi được bị cáo Tô Văn A khởi xướng đã tiếp nhận ngay ý chí, trực tiếp đi nhận hàng về đóng gói và vận chuyển 3.860 bao thuốc lá điếu nhập lậu, mục đích vận chuyển sang Trung Quốc để nhận tiền công. Vì vậy bị cáo giữ vai trò người thực hành trong việc vận chuyển 3.860 bao thuốc lá điếu nhập lậu.

Bị cáo phải chịu trách nhiệm chính, độc lập về việc vận chuyển 9.370 bao thuốc lá điếu nhập lậu, mục đích vận chuyển sang Trung Quốc để nhận tiền công.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng:

Bị cáo Trần Mạnh H không có tình tiết tăng nặng.

Bị cáo , ngày 07/12/2021 bị Toà án nhân dân tỉnh Hà Giang xử phạt 18 tháng cải tạo không gian giữ về tội “Mua bán trái phép thông tin về tài khoản Ngân hàng”. Bị cáo Tô Văn A ngày 21/01/2021 bị Toà án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, xử phạt Tô Văn A 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 02 năm 06 tháng về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”. Đến ngày 07/01/2022 các bị cáo tiếp tục phạm tội, vì vậy hành vi phạm tội lần này của bị cáo , Tô Văn A thuộc trường hợp tái phạm và các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Ngày 25/01/2022 bị cáo , ngày 15/01/2022 bị cáo Tô Văn A đã đến cơ quan điều tra đầu thú. Bị cáo Trần Mạnh H có ông nội là Trần Văn Đầm được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến Hạng ba và ông ngoại Nguyễn Xuân Nhã được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến Hạng nhất. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà các bị cáo được hưởng khoan hồng của pháp luật.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo , Tô Văn A thấy rằng: Hành vi phạm tội của các bị cáo cần áp dụng hình phạt tù, có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo Trần Mạnh H thấy rằng: Bị cáo Trần Mạnh H có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng, sau khi phạm tội đã ăn năn hối cải, không gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng khi điều tra, xét xử vụ án; có nơi cư trú rõ ràng để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục. Xét thấy, không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy việc cho bị cáo hưởng án treo, giao bị cáo cho Ủy ban nhân xã nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục là phù hợp.

Về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án:

Đối với bị cáo : Tại bản án số 69/2021/HSST ngày 07/12/2021 của Toà án nhân dân tỉnh Hà Giang xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Mua bán trái phép thông tin về tài khoản Ngân hàng”. Theo quy định tại Điều 55; Điều 56 của Bộ luật Hình sự quy định: …Nếu hình phạt đã tuyên là cải tạo không giam giữ, thì hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỷ lệ cứ 03 ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành 1 ngày tù…Vì vậy, quy đổi 18 tháng cải tạo không giam giữ của bản án số 69/2021/HSST ngày 07/12/2021 thành 06 tháng tù để tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đối với bị cáo.

Đối với bị cáo Tô Văn A: Tại bản án số 01/2021/HSST ngày 21/01/2021 của Toà án nhân dân hyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, xử phạt Tô Văn Tô Văn A 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 02 năm 06 tháng về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”. Ngày 07/01/2022 bị cáo tiếp tục phạm tội. Như vậy bị cáo đã phạm tội mới trong thời gian thử thách của án treo. Theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự: …Trong thời gian thử thách của án treo, người được hưởng án treo phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần tổng hợp 01 năm 03 tháng tù của của bản án số 01/2021/HSST ngày 21/01/2021 để tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Đối với Dương Quang T là người đã thuê vận chuyển 480 bao thuốc lá nhãn hiệu “Marlboro flip-topTM box double burst” do nước ngoài sản xuất và 1.600 bao thuốc lá nhãn hiệu „555 SILVER90‟ do Việt Nam sản xuất. Quá trình điều tra xác định số lượng thuốc lá do nước ngoài sản xuất chưa đủ căn cứ để xử lý về hình sự. Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Dương Quang T là phù hợp.

Đối với Nguyễn Quốc V: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai trong số 09 bao tải chứa thuốc lá, có 05 bao là của Nguyễn Quốc V. Nguyễn Quốc V không thừa nhận và không liên quan đến hành vi phạm tội của . Ngoài lời khai của , không có căn cứ gì để chứng minh, nên cơ quan điều tra không đủ căn cứ xử lý đối với Nguyễn Quốc V.

Về vật chứng:

- Vật chứng còn lại sau giám định gồm: 08 thùng bìa cát tông bên trong chứa tổng số 296 cây thuôc lá = 2.960 bao thuôc lá các loại do nước ngoài sản xuất và 72 cây thuôc lá = 720 bao thuốc lá các loại do Việt Nam sản xuất. 960 hộp Neuronox, 32 lọ thuỷ tinh là vật chứng vụ án, thu giữ của Tô Văn A và Trần Mạnh H; 15 thùng bìa cát tông bên trong chứa tổng số 707 cây thuôc lá = 7.070 bao thuôc lá các loại do nước ngoài sản xuất và 110 cây thuôc lá = 1.100 bao thuốc lá các loại do Việt Nam sản xuất thu giữ của , xác định là vật nhà nước cấm lưu hành, vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 01 chiếc điện thoại hiệu Sam Sung galaxy S20 màu đen thu giữ của Trần Mạnh H, 01chiếc diện thoại hiệu Sam Sung – Galaxy S6 màu trắng thu giữ của Tô Văn A, đây là điện thoại các bị cáo dùng làm phương tiện phương tiện phạm tội, cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 191; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. Phạt bị cáo 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù. Căn cứ Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 06 tháng tù của bản án số 69/2021/HSST ngày 07/12/2021 của Toà án nhân dân tỉnh Hà Giang. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 06 (sáu) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo ngày 25/01/2022

2. Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 191; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điêm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Tô Văn A phạm tội “Vận chuyển hàng cấm ”. Phạt bị cáo Tô Văn A 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Căn cứ Điều 55, Điều 56, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 01 năm 03 tháng tù của bản án số 01/2021/HSST ngày 07/12/2021 của Toà án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Buộc bị cáo Tô Văn A phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 15/01/2022. Khấu trừ cho bị cáo 30 ngày tạm giữ, tạm giam của bản án 01/2021/HSST ngày 07/12/2021 của Toà án nhân dân huyện Bát Xát.

3. Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 191; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Mạnh H phạm tội “Vận chuyển hàng cấm ”. Phạt bị cáo Trần Mạnh H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Trần Mạnh H cho Ủy ban nhân dân xã Bản Cầm, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai, nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách của án treo: “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

4. Căn cứ Điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 296 cây = 2.960 bao thuốc lá các loại do nước ngoài sản xuất và 72 cây = 720 bao thuốc lá do Việt Nam sản xuất, được niêm phong trong 08 thùng bìa cát tông. Bên ngoài 08 thùng cát tông được dán giấy A4 có dòng chữ “Vật chứng trong vụ án: “Trần Mạnh H sinh ngày 18/2/1990 bị bắt quả tang ngày 07/01/2022 về hành vi vận chuyển hàng cấm xảy ra tại khu vực đường A1, tổ 7, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai” của bị can Tô Văn A và bị can Trần Mạnh H vận chuyển trái phép, bị bắt ngày 07/01/2022” về hành vi “Vận chuyển hàng cấm” xảy ra tại khu vực đường A1, Tổ 7, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai ký hiệu từ “Thùng số 01” đến “Thùng số 08”. Trên giấy niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và dấu tròn đỏ của UBND phường Nam Cường, thành phố Lào Cai.

+ 707 cây = 7.070 bao thuốc lá các loại do nước ngoài sản xuất và 110 cây = 1.100 bao thuốc lá điếu do Việt Nam sản xuất được niêm phong trong tổng số 15 thùng bìa cát tông. Trong đó: 02 thùng bìa cát tông được dán giấy A4 có dòng chữ “Vật chứng trong vụ án: “Trần Mạnh H bị bắt quả tang ngày 07/01/2022 về hành vi vận chuyển hàng cấm xảy ra tại khu vực đường A1, tổ 7, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai” của bị can Trần Mạnh H, và Dương Quang T vận chuyển trái phép ký hiệu “Thùng số 10” và “Thùng số 11”. Trên giấy niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và dấu tròn đỏ của UBND phường Nam Cường, thành phố Lào Cai; 13 Thùng bìa cát tông thùng bìa cát tông được dán giấy A4 có dòng chữ Vật chứng trong vụ án Trần Mạnh H bị bắt quả tang ngày 07/01/2022 về hành vi “Vận chuyển hàng cấm” xảy ra tại khu vực “đường A1, tổ 7, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai” của bị can và bị can Trần Mạnh H vận chuyển trái phép ký hiệu “Thùng số 12” đến “Thùng số 24”.Trên giấy niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai.

+ 960 hộp Neuronox được niêm phong vào 01 thùng bìa cát tông được trên mặt của thùng niêm phong được dán tờ giấy có in nội dung: Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ “Vận chuyển hàng cấm” xảy ra tại khu vực “đường A1, tổ 7, phường Duyên Hải, TP Lào Cai, tỉnh Lào Cai ngày 07/01/2022 - Neuronox Purified Botulinum Toxin Type A Complex”.ký hiệu “Thùng số 09”. Trên giấy niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và dấu tròn đỏ của Trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai.

+ 32 vỏ hộp và 32 lọ thuỷ tinh trong 01 thùng cát tông có dán kín hoàn lại cho Cơ quan điều tra. Trên một mặt hộp có dán tờ giấy in nội dung: Vật chứng còn lại sau giám định thu trong vụ vận chuyển hàng cấm xảy ra tại khu vực “đường A1, Tổ7, phường Duyên Hải, TP Lào Cai, tỉnh Lào Cai ngày 07/01/2022-Neuronox Purified Botulinum Toxin Type A Complex”. Trên giấy niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và dấu tròn đỏ của phòng KTHS – Công an tỉnh Lào Cai.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 chiếc điện thoại đã qua sử dụng của Trần Mạnh H Điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY S20+, màu đen, số kiểu máy: SM-G985F/DS; số seri: R58N22ZE60Z; IMEI khe 1: 355362111628298; IMEI khe 2: 355363111628296; Kèm theo là 01 thẻ sim của nhà mạng Vinaphone có số trên thẻ sim là 89840200010588650721 của số thuê bao 0914.921.078 và 01 thẻ sim của nhà mạng Viettel có số trên thẻ sim là 8984048851000235587 của số thuê bao 0979.858.399 được niêm phong vào trong 01 phong bì thư của Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Lào Cai, trên bì thư có các chữ ký của thành phần tham gia và đóng dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công An tỉnh Lào Cai, trên bì thư có ghi dòng chữ: Vật chứng thu giữ của Trần Mạnh H “Vận chuyển hàng cấm” bị bắt tại khu vực “đường A1, Tổ 7,phường Duyên Hải, TP Lào Cai, tỉnh Lào Cai ngày 07/01/2022”; 01 chiếc điện thoại đã qua sử dụng của Tô Văn A có đặc điểm là điện thoại màu trắng, nhãn hiệu Sam Sung – Galaxy S6 có số kiểu máy: SM-G920K; số Seri: R39GC096F9 và 01 thẻ sim bên trong điện thoại, số thuê bao 0833119152 có số in trên thẻ sim: 89840200011262356130 được niêm phong vào trong 01 phong bì thư màu trắng in sẵn của Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Lào Cai, mặt trước ghi dòng chữ: Điện thoại tạm giữ của Tô Văn A “sinh ngày 12/8/1980, nơi ĐKHKTT: Thôn An Thành, xã Quang Kim, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, tạm giữ ngày 15/01/2022”, mặt sau bì thư có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và 04 dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai.

(Vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/7/2022)

5. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo , Tô Văn A, Trần Mạnh H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng)tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ