- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Va T phạm tội " Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TP TỈNH BT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 97/2022/HS-ST. Ngày: 14-7-2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TP - TỈNH BT
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Nguyễn Hoàng Bích Loan.
+ Ông Nguyễn Văn Thìn.
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiêm Uyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện TP.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP tham gia phiên tòa: Ông Hứa Hải Dương – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TP, tỉnh BT xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 80/2022/TLST-HS ngày 22 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2022/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2022, đối với bị cáo:
Trương Văn T, sinh ngày 09-11-1991 tại tỉnh BT.
Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn 01, xã BT1, huyện TP, tỉnh BT; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn Trung, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị Ngọc, sinh năm 1962; vợ, con: Chưa có.
Tiền án: Không; tiền sự: 01, ngày 15-10-2021 bị Công an thị trấn LH, huyện TP xử phạt 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi trộm cắp tài sản (Chưa được xóa tiền sự).
Hoạt động nhân thân: Ngày 29/01/2010, bị Tòa án nhân dân huyện TP xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 09/2010/HSST.
Bị cáo bị tạm giam ngày 22-5-2022, có mặt.
- Bị hại: Nguyễn Thành L, sinh năm 1984; địa chỉ: Khu phố 12, thị trấn LH, huyện TP, BT. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 19-01-2022, Nguyễn Thành L điều khiển xe mô tô biển số 86TA-1071, hiệu Honda loại Cup 50 màu xanh đến quán karaoke Xuân Khánh thuộc khu phố 12, thị trấn LH để nhậu và hát. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, Trương Văn T đi bộ ngang qua quán karaoke nhìn thấy xe mô tô trên không có người trông coi nên nảy sing ý định trộm cắp để bán lấy tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng. Trực quan sát xung quanh rồi đến gần xe mô tô kiểm tra thấy không khóa cổ xe nên lén dắt xe đi một đoạn. Sau đó, Trực tháo dây điện bình ra, đấu nối dây bình lại khởi động thì xe nổ máy. Trực điều khiển xe chạy lòng vòng để tìm nơi tiêu thụ, khi đến gần khách sạn Hoàng Phi Hoa thuộc khu phố 5, thị trấn LH thì bị tổ tuần tra Công an thị trấn LH yêu cầu dừng xe để kiểm tra, do không xuất trình được giấy tờ nên tổ công tác đưa Trực về trụ sở Công an thị trấn LH để làm việc và Trực thừa nhận hành vi trộm cắp xe mô tô trên.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐG ngày 17-3-2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện TP, kết luận: 01 xe mô tô 02 bánh hiệu Honda, loại C50, màu xanh, giá trị sử dụng còn lại 30%, trị giá 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng).
Về tang, vật chứng và trách nhiệm dân sự: Sau khi định giá, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Nguyễn Thành L xe mô tô biển số 86TA-1071. Nguyễn Thành L không có yêu cầu bồi thường dân sự.
Tại Bản Cáo trạng số 86/CT-VKSTP-HS, ngày 21 tháng 6 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TP đã truy tố về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng:
+ Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Trương Văn T từ 12 (Mười hai) tháng tù đến 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Bị cáo Trương Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện TP đã truy tố và việc truy tố bị cáo là đúng, không oan, bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TP, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TP, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trương Văn T không có ý kiến, cũng như không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện, đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã làm rõ: Vào lúc 23 giờ 30 phút ngày 19-01-2022, bị cáo Trương Văn T đi bộ ngang qua quán karaoke Xuân Khánh thuộc khu phố 12, thị trấn LH lấy trộm xe mô tô biển số 86TA-1071 hiệu Honda, Cup50 của anh Nguyễn Thành L đang dựng trước quán và bị Công an thị trấn LH thấy có biểu hiện nghi vấn nên kiểm tra và phát hiện sự việc. Tại Bản kết luận giám định số 15/KL-HĐĐG, ngày 17-3-2022, đã xác định giá trị xe mô tô là 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) nên đủ định lượng để cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
Bị cáo Trương Văn T là người đã trưởng thành nên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận biết hành vi lén lút trộm cắp tài sản là xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác nhưng do nghiện ngập, không có nghề nghiệp, lười biếng, muốn có tiền để tiêu xài cho cá nhân mà không phải lao động nên đã thực hiện tội phạm. Hành vi của bị cáo là trái pháp luật, có tính chất nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng cho cộng đồng dân cư. Vì vậy, cần thiết phải xử lý bị cáo một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục và cải tạo bị cáo để trở thành công dân tốt.
Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, giá trị tài sản trộm cắp không lớn và đã được thu hồi giao trả cho người bị hại nên bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” và một tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi lượng hình đối với bị cáo.
Về tang, vật chứng và trách nhiệm dân sự trong vụ án: Đã xử lý trong giai đoạn điều tra và bị hại không có yêu cầu bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bị cáo Trương Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 268, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Trương Văn T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam 22-5-2022.
Áp dụng: Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.
Buộc bị cáo Trương Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14-7-2022). Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án.
HỘI THẨM NHÂN DÂN
| Nguyễn Hoàng Bích Loan Nguyễn Văn Thìn | CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN Trần Thị Thu Huyền |