vanban.org

Bản án 97/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 30/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 589 của Bộ luật Dân sự 2015:

1. Buộc các bị cáo Nguyễn Vũ L, Nguyễn Văn Bữu A cùng có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho các bị hại sau đây: Anh Thái Doãn T số tiền 43.000.000 (bốn mươi ba triệu) đồng, anh Phan Hoàng M số tiền 13.667.000 (mười ba triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn) đồng; chị Dương Thị Diễm T số tiền 31.167.000 (ba… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Vũ L cùng đồng phạm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 589 của Bộ luật Dân sự 2015:
  • Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN CHÂU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2022/HS-ST
Ngày: 30-9-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thay;

Bà Nguyễn Thị Thanh Bình.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phú, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Cƣờng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 83/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Vũ L, sinh năm 2000 tại tỉnh Long An; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố 4, thị trấn Đ, huyện H, tỉnh L; Chỗ ở: Ấp 3, xã N, huyện C, tỉnh N; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Quý (chết) và bà Nguyễn Thị Lệ; có vợ là Trần Minh Anh (đã ly hôn) và 01 người con sinh năm 2018; tiền án: Không có; tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 27b/QĐ-XPHC ngày 18/6/2021 của Công an thị trấn Đông Thành, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ L với số tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chưa nộp phạt. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 43/QĐ-XPHC ngày 05/10/2021 của Công an thị trấn Đông Thành, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ L với số tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, bị can Vũ L đã nộp phạt tại biên lai số 0023617, ngày 04/11/2021; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/3/2022 đến nay (có mặt).

2. Nguyễn Văn Bữu A, sinh năm 1991 tại tỉnh Long An; nơi cư trú: Ấp 5, xã B, huyện Đ, tỉnh L; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Nó và bà Đỗ Thị Kim Lũ; có vợ thứ nhất là Trần Nguyễn Ngọc Tâm (đã ly hôn), vợ thứ hai là Võ Phương Thúy và 01 người con sinh năm 2020; tiền án: Không có; tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 18/QĐ-XPHC ngày 17/6/2021 của Công an thị trấn Đông Thành, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An xử phạt Nguyễn Văn Bữu A với số tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chưa nộp phạt. Quyết định số 1380/QĐ-UBND, ngày 04/8/2021 của Ủy ban nhân dân xã Mỹ Thạnh Bắc, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với Nguyễn Văn Bữu A với thời hạn 03 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 12/11/2021; nhân thân: Tại Bản án số 32/2008/HSST ngày 10/12/2008 của Tòa án nhân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An tuyên phạt Nguyễn Văn Bữu A 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 23/4/2011 (đã được xóa án tích). Ngày 15/7/2022, bị TAND huyện Đức Huệ, tỉnh Long An xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2022/HS-ST; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/3/2022 đến nay (có mặt).

3. Nguyễn Quốc V, sinh năm 1995 tại tỉnh Long An; nơi cư trú: Khu phố 4, thị trấn Đ, huyện H, tỉnh L; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Quý (chết) và bà Nguyễn Thị Lệ; tiền án: Tại Bản án số 311/2020/HS-ST ngày 10/11/2020 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ khoản 1 Điều 323, các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Quốc V 01 năm 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, chấp hành xong hình phạt vào ngày 19/01/2022, chưa được xóa án tích; tiền sự: Không có; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/3/2022 đến nay (có mặt).

4. Nguyễn Thành L, sinh năm 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã LT, huyện C, Thành phố M; chỗ ở hiện nay: Ấp Đồn, xã H, huyện C, Thành phố M; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Tài và bà Phạm Thị Lừng; tiền án: Không có; tiền sự: Quyết định số 65/QĐ-TA ngày 09/3/2020 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thành L với thời hạn 21 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy – bảo trợ xã hội Phú Văn thuộc xã Phú Văn, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước, chấp hành xong ngày 15/8/2021. Quyết định số 2097/QĐ-UBND ngày 26/11/2021 của UBND xã Trung Lập Hạ, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã với thời hạn 03 tháng đối với Nguyễn Thành L về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; nhân thân: Ngày 28/11/2019, bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, đã được xóa án tích. Ngày 09/6/2022, bị TAND huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2022/HS-ST; bị cáo bị tạm giam trong một vụ án khác tại Nhà tạm giữ Công an huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương từ ngày 03/01/2022 đến nay (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Bị hại:

1. Anh Thái Doãn T, sinh năm 1983; địa chỉ: Khu phố 4, thị trấn T, huyện C, tỉnh N (có mặt).

2. Anh Phan Hoàng M, sinh năm 1981; địa chỉ: Khu phố 3, thị trấn T, huyện C, tỉnh N (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

3. Chị Dương Thị Diễm T, sinh năm 1992; địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh N (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

4. Chị Trần Thị Thúy V, sinh năm 1997; địa chỉ: Ấp P, xã N, huyện M, tỉnh N (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

5. Chị Phan Thị Như Y, sinh năm 2003; địa chỉ: Ấp Bàu L, xã T, huyện B, tỉnh N (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

6. Chị Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1999; địa chỉ: Ấp Long Bình, xã Long Thành Nam, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

7. Chị Nguyễn Minh T, sinh năm 1993; địa chỉ: Khu phố 1, thị trấn C, huyện T, tỉnh N (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

8. Chị Đinh Thị Bích T, sinh năm 2002; địa chỉ: Khu phố P, phường N, thành phố T, tỉnh N (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

9. Chị Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1985; địa chỉ: Khu phố 3, phường H, thị xã HT, tỉnh N (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

10. Anh Trần Thanh H, sinh năm 1989; địa chỉ: Khu phố 5, phường L, thị xã G, tỉnh BT (vắng mặt).

11. Chị Nguyễn Thị Thu C, sinh năm 2003; địa chỉ: Khu phố K, phường T, thị xã HT, tỉnh N (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

12. Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1992; địa chỉ: Ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh N (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

13. Chị Lê Thị Ngọc V, sinh năm 1970; địa chỉ: Khu phố 5, phường 1, thành phố T, tỉnh N (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

14. Anh Biện Tấn H, sinh năm 1971; địa chỉ: Khu phố 3, phường 4, thành phố T, tỉnh N (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

15. Anh Trần Thanh P, sinh năm 1979; địa chỉ: Khu phố 3, thị trấn B, huyện C, tỉnh N (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài nên Nguyễn Vũ L bàn bạc rủ Nguyễn Văn Bữu A, Nguyễn Quốc V, Nguyễn Thành L và người tên Nên, H (không rõ nhân thân lai lịch) cùng nhau đi tìm xe mô tô không có người trông coi để lấy trộm bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, tất cả đồng ý. Trước khi đi trộm, Vũ L lên mạng xã hội đặt mua các công cụ như ống điếu, cần xiết lực, chìa khóa từ, đoản bẻ khóa để làm công cụ bẻ ổ khóa lấy trộm xe mô tô, đồng thời giao các công cụ này cho Nguyễn Văn Bữu A cất giữ; phân công vai trò cụ thể, trong đó L là người rủ rê và trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp, Bữu A tham gia chuẩn bị phương tiện và cảnh giới, V, L1 trực tiếp lấy trộm tài sản và cảnh giới.

Trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm 2021 đến tháng 3 năm 2022, L, V, A , L1 đã thực hiện tổng cộng 18 vụ trộm cắp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, cụ thể:

* Trên địa bàn huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh Nguyễn Vũ L và Nguyên Văn Bữu Acùng thực hiện 03 vụ trộm cắp xe mô tô gồm:

- Vụ thứ nhất: Ngày 10/02/2022, như đã thống nhất từ trước, L điều khiển xe mô tô hiệu Satria biển số 60H1-206.80 chở A ngồi sau, khi đi ngang qua tiệm điện “Hồng Phúc” thuộc khu phố 3, thị trấn Tân Châu, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh thì L phát hiện xe mô tô Future F1 màu đỏ đen, biển số 70K1-682.96 của anh Thái Doãn T đang dựng trước cửa tiệm để vào mua hàng, xe không khóa cổ nên L dừng xe mô tô trước lề đường nhựa, Bữu A ngồi trên xe làm nhiệm vụ cảnh giới, L đi bộ tiếp cận dùng đoản phá ổ khóa và lấy trộm xe mô tô trên. Sau đó, L điều khiển xe lấy trộm chạy trước, A điều khiển xe mô tô Satria chạy theo sau, L mang xe trộm được đến khu vực cửa khẩu Tho Mo, thuộc huyện Đức Huệ, tỉnh Long An bán cho người tên Ken (không rõ nhân thân, địa chỉ) với giá 11.000.000 đồng, L chia cho A 5.500.000 đồng.

- Vụ thứ hai: Ngày 24/02/2022, L điều khiển xe mô tô Satria biển số 60H1-206.80 chở A ngồi sau, khi đi ngang qua tiệm điện “Gia Huy” thuộc khu phố 3, thị trấn Tân Châu, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh thì phát hiện xe mô tô Wave màu đỏ, biển số 70K1-658.20 của anh Phan Hoàng M đang dựng trước tiệm, trên xe vẫn còn cắm chìa khóa nên L dừng xe mô tô trước lề đường nhựa, A ngồi trên xe Satria làm nhiệm vụ cảnh giới, L đi bộ tiếp cận và lấy trộm xe mô tô nêu trên. Sau khi lấy trộm được xe, L điều khiển đến khu vực cửa khẩu Tho Mo thuộc huyện Đức Huệ, tỉnh Long An bán cho Ken với giá 9.000.000 đồng, L chia cho A 4.500.000 đồng.

- Vụ thứ ba: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 01/3/2022, L điều khiển xe mô tô Satria biển số 60H1-206.80 chở A đến địa pH ấp Thạnh Hưng, xã Thạnh Đông, huyện Tân Châu, phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu Exciter biển số 70H1-484.11 của chị Dương Thị Diễm T đang dựng trước cửa nhà. L dừng xe trước lề đường rồi đi bộ vào dùng đoản phá cổ xe lấy trộm, A đứng bên ngoài cảnh giới. Sau khi trộm được xe L điều khiển xe mô tô vừa trộm được đến khu vực cửa khẩu Tho Mo thuộc huyện Đức Huệ, tỉnh Long An bán cho Ken với giá 12.000.000 đồng, L chia cho A 6.000.000 đồng.

* Trên địa bàn thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Vũ L cùng với Nguyễn Văn Bữu A và Nguyễn Quốc V thực hiện 08 vụ trộm cắp xe mô tô gồm:

Vụ thứ nhất: Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 09/01/2022, Bữu A chở L bằng xe mô tô Satria biển số 60H1-206.80 đi trên đường Lê L1, khu phố 3, Phường 3, thành phố Tây Ninh, khi đến trước shop mỹ phẩm “LYN”, phát hiện chị Trần Thị Thúy V, dựng chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại SH125, màu trắng biển số 70E1-150.36 trước cửa shop nhưng không người trông giữ, L đi đến dùng đoản bẻ khóa lấy trộm xe, Bữu A đứng ngoài cảnh giới. Sau khi trộm được xe, L đem bán cho người thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) tại huyện Đức Huệ, tỉnh Long An với số tiền 11.000.000 đồng cả hai chia nhau tiêu xài.

Vụ thứ hai: Khoảng 16 giờ, ngày 18/01/2022, L điều khiển xe mô tô Satria biển số 60H1-206.80 chở Bữu A đi tìm tài sản lấy trộm, khi đến trước quán ăn vặt “Xaibar” thuộc khu phố 5, phường 3, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh phát hiện chị Phan Thị Như Y đang dựng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đen đỏ, biển số 60B7-565.14 trước quán nhưng không người trông giữ, L đi đến dùng đoản bẻ khóa lấy trộm xe, Bữu A đứng bên ngoài cảnh giới. Sau khi trộm được xe L mang đến huyện Đức Huệ, tỉnh Long An bán cho người tên Ken được 7.000.000 đồng cả hai chia nhau tiêu xài.

Vụ thứ ba: Khoảng 8 giờ 30 phút, trong tháng 01/2022 (không nhớ rõ ngày), L điều khiển xe mô tô Satria biển số 60H1-206.80 chở Bữu A đi tìm tài sản lấy trộm. Khi đến ngã 3 giao lộ đường Nguyễn Chí Thanh và Lê Duẩn thuộc khu phố 1, phường 3, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, phát hiện xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen (không rõ biển số, chủ sở hữu) dựng trên vỉa hè không người trông giữ, Bữu A đứng bên ngoài cảnh giới, L đi đến dùng đoản bẻ khóa lấy trộm xe. Sau đó, L đem bán cho người tên Ken tại huyện Đức Huệ, tỉnh Long An với số tiền 6.000.000 đồng cả hai chia nhau tiêu xài.

Vụ thứ tư: Khoảng 15 giờ, ngày 22/02/2022, L điều khiển xe mô tô Satria biển số 60H1-206.80 chở Bữu A, V điều khiển xe mô tô hiệu Exciter (không rõ biển số) cùng nhau đi tìm tài sản trộm cắp. Khi đến trước cửa nha khoa “Nhân Tâm” trên đường 30/4, khu phố 4, Phường 2, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh phát hiện chị Nguyễn Thị Cẩm T dựng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vission, màu đen đỏ, biển số 70B1-471.37 trước cửa tiệm nhưng không người trông giữ, Bữu A và V đứng bên ngoài cảnh giới, L đi đến dùng đoản bẻ khóa lấy trộm chiếc xe. Sau đó, L đem xe vừa trộm được bán cho người tên Ken được 9.000.000 đồng cả ba chia nhau tiêu xài.

Vụ thứ năm: Khoảng 9 giờ 30 phút, ngày 24/02/2022, sau khi lấy trộm xe mô tô của anh Phan Hoàng M ở thị trấn Tân Châu, trên đường mang xe trộm được đến huyện Đức Huệ, tỉnh Long An để tiêu thụ, khi đi ngang cửa hàng sữa “Vinamilk” trên đường 30/4, thuộc khu phố 1, Phường 1, thành phố Tây Ninh, L phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH125, màu đỏ đen biển số 70C1-112.08 của chị Nguyễn Minh T đang dựng trước cửa hàng nhưng không người trông giữ, L kêu Bữu Amang xe mô tô Satria biển số 60H1-206.80 đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Tây Ninh gửi, L điều xe mô tô vừa lấy trộm của anh Minh chở Bữu A đến trước cửa hàng sữa, giao xe mô tô cho Bữu A điều khiển và cảnh giới, L đi vào dùng đoản bẻ khóa lấy trộm xe mô tô của chị T . Sau khi trộm được xe, L và Bữu A cùng điều khiển 02 xe đã lấy trộm được đến khu vực cửa khẩu Tho Mo, thuộc huyện Đức Huệ, tỉnh Long An bán cho Ken được 20.000.000 đồng chia nhau tiêu xài.

Vụ thứ sáu: Sau khi bán được 02 xe mô tô lấy trộm của anh M và chị T . Đến khoảng 13 giờ, ngày 24/02/2022, L tiếp tục điều khiển xe mô tô Satria biển số 60H1-206.80 chở Bữu A, V điều khiển xe mô tô hiệu Exciter cùng nhau đi tim tài sản lấy trộm. Khi đến trước quán cà phê “YaMa” trên đường Võ Thị Sáu khu phố 5, phường 4, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh phát hiện chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu trắng đen bạc, biển số 70D1-353.80 của chị Đinh Thị Bích T đang dựng trước quán, L dừng xe giao cho Bữu A điều khiển cùng với V đứng bên ngoài cảnh giới, L đi đến dùng đoản bẻ khóa lấy trộm xe mô tô của chị T . Sau khi trộm được xe, L điều khiển đến khu vực cửa khẩu Tho Mo, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An bán cho người tên Ken được 9.000.000 đồng cả ba chia nhau tiêu xài.

Vụ thứ bảy: Khoảng 11 giờ 30 phút, trong 02/2022, L điều khiển xe mô tô Satria biển số 60H1-206.80 chở Bữu A đi tìm tài sản lấy trộm. Khi đến khu vực cách ngã 3 Mũi Tàu khoảng 200 m, thuộc khu phố 1, Phường 1 thành phố Tây Ninh phát hiện xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại SH mode, màu trắng (không nhớ rõ biển số, không xác định được chủ sở hữu) không người trông giữ, Bữu A đứng bên ngoài cảnh giới, L đi đến dùng đoản bẻ khóa lấy trộm chiếc xe mô tô nêu trên. Sau đó, L đem xe mô tô mới vừa trộm được bán cho người tên Ken được 8.000.000 đồng cả hai chia nhau tiêu xài.

Vụ thứ tám: Khoảng 7 giờ 20 phút, ngày 02/3/2022, Bữu A điều khiển xe mô tô Satria biển số 60H1-206.80 chở V đi tìm tài sản lấy trộm. Khi đến khu vực thuộc địa bàn khu phố 5, Phường 1, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, phát hiện chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại SH mode, màu trắng, biển số 70B1-431.20 của chị Lê Thị Ngọc V đang dựng trước nhà không người trông giữ, Bữu A đứng bên ngoài cảnh giới, V đi vào dùng đoản bẻ khóa lấy trộm chiếc xe mô tô nêu trên của chị Vân. Sau đó, Bữu A đem xe mô tô mới vừa trộm được bán cho người tên Phon (không rõ nhân thân lai lịch) tại khu vực cửa khẩu Tho Mo, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An được 8.000.000 đồng cả hai chia nhau tiêu xài.

* Tại địa bàn thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh Nguyễn Vũ L cùng với Nguyễn Văn Bữu A, Nguyễn Quốc V, Nguyễn Thành L và H, N thực hiện 5 vụ trộm cắp xe mô tô gồm:

Vụ thứ nhất: Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 26/11/2021, L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Sonic màu đỏ đen chở Nên đi tìm tài sản trộm cắp. Khi đến trước tiệm cửa cuốn “Thành Nghiêm” trên đường Tôn Đức Thắng thuộc khu phố Long Chí, phường Long Thành Trung, thị xã Hòa Thành, thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Furture X F1, màu đỏ đen biển số 62N1-762.95 của chị Nguyễn Thị Thu T đang để trước tiệm không có người trông giữ, L dừng xe sát mép đường đi bộ đến dùng đoản bẻ khóa lấy trộm xe, N đứng ngoài cảnh giới. Sau khi trộm được xe mô tô nêu trên, L bán cho người thanh niên tên Bót (không rõ nhân thân lai lịch) số tiền 7.000.000 đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng 19, ngày 17/12/2021, L điều khiển xe Exciter của L chở H, Nguyễn Thành L điều khiển xe mô tô hiệu Exciter của L1 chở Nên (không rõ nhân thân lai lịch) cùng nhau đi tìm tài sản trộm cắp. Khi đến trước tiệm spa “New York” trên đường Tôn Đức Thắng thuộc khu phố Long Thới, phường Long Thành Trung, thị xã Hòa Thành, thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại SH 150i, màu xanh đen biển số 29U1-252.72 (bên trong cốp xe có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus 64 GB, màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus 64 GB, màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme 5, màu xanh; 01 đồng hồ đeo tay nam, nhãn hiệu Michael Kors, loại sử dụng pin, màu xanh, dây bằng kim loại; 01 nhẫn cưới vàng 18K, trọng lượng 01 chỉ) của anh Trần Thanh H đang dựng để trước cửa tiệm không có người trông giữ. L1, H, Nên đứng cảnh giới bên ngoài, L đi vào dùng đoản bẻ khóa lấy trộm xe mô tô nêu trên và tài sản trong cốp xe. Sau khi lấy trộm được tài sản L, H, Nên, L1 mang về nhà hoang gần nhà của L thuộc khu phố 4, thị trấn Đông Thành, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An lấy các tài sản trong cốp xe để chia nhau. Trong lúc đang chia thì bị Công an đến kiểm tra nên tất cả bỏ chạy, Cơ quan điều tra đã thu hồi được xe mô tô còn các tài sản trong cốp xe L, H, Nên, L1 đã vứt bỏ trên đường chạy thoát nên không thu hồi được.

Vụ thứ ba: Khoảng 9 giờ 30 phút, gần Tết nguyên đán năm 2022 (không nhớ rõ ngày) Bữu A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter của L chở L đi tìm tài sản lấy trộm. Khi đến gần cổng Trung Tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Tây Ninh (cũ) trên quốc lộ 22B thuộc khu phố Hiệp Trường, phường Hiệp Tân, thị xã Hòa Thành phát hiện 01 xe mô tô, nhãn hiệu Sirius, màu đen để cặp lề đường Quốc lộ 22B, không có người trông giữ, Bữu A dừng xe lại đứng cảnh giới, để L đi đến dùng đoản bẻ khóa lấy trộm xe mô tô nêu trên. Sau khi trộm được xe, L mang đi bán cho người thanh niên tên Bót (không rõ nhân thân lai lịch) với số tiền 7.000.000 đồng.

Vụ thứ tư: Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 27/02/2022, Bữu A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, loại Satria biển số 60H1-206.80 chở L đi tìm tài sản lấy trộm. Khi đi đến tiệm bán phụ liệu tóc “Hồng Ngọc” thuộc khu phố 1, phường Long Hoa, thị xã Hòa Thành, thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario, màu trắng – đen biển số 70G1-835.92 của chị Nguyễn Thị Thu C đang dựng trước cửa tiệm, không có người trông giữ. Bữu A dừng xe lại đứng bên ngoài cảnh giới, L đi vào lấy trộm xe mô tô nêu trên. Sau khi trộm được xe, L mang qua Campuchia bán cho người thanh niên tên Bót (không rõ nhân thân lai lịch) với số tiền 12.000.000 đồng cả hai chia nhau tiêu xài cá nhân.

Vụ thứ năm: Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 02/3/2022, Bữu A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter chở V đi tìm tài sản để lấy trộm. Khi đi đến trước vựa bán chuối “Trang” gần trụ sở UBND phường Long Thành Bắc, thị xã Hòa Thành, thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter màu xanh xám mang biển số 70G1-407.48 của anh Biện Tấn H đang dựng cặp lề đường, không có người trông giữ. Bữu A dừng xe lại đứng cảnh giới để V đi đến lấy trộm xe mô tô nêu trên. Sau khi trộm được xe, Bữu A cùng với V mang xe qua Campuchia bán cho người tên Phon với số tiền 9.000.000 đồng cả hai chia nhau tiêu xài cá nhân.

* Tại địa bàn huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh Nguyễn Vũ L cùng với Nguyễn Văn Bữu A thực hiện 01 vụ trộm cắp xe mô tô như sau:

Khoảng 10 giờ, ngày 27/02/2022, L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria, biển số 60H1-206.80 chở Bữu A đi tìm tài sản lấy trộm. Khi đi ngang qua nhà chị Lê Thị Yến V ngụ ấp Ninh Thuận, xã Bàu Năng, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, L phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X, màu đỏ đen, biển số 61K1-223.19 của anh Nguyễn Minh T đang dựng trước sân nhà chị V không người trông coi. L dừng xe bên ngoài để Bữu A đứng cảnh giới, L đi bộ vào lấy trộm xe của anh T . Sau khi lấy trộm được xe, L điều khiển xe đến khu vực cửa khẩu Tho Mo, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An bán cho Ken với số tiền 12.000.000 đồng, chia mỗi người 6.000.000 đồng.

* Tại địa bàn huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh Nguyễn Văn Bữu A cùng với Nguyễn Quốc V thực hiện 01 vụ trộm cắp xe mô tô như sau:

Khoảng 9 giờ 30 phút, ngày 28/02/2022, Bữu A điều khiển xe mô tô Exciter của L chở V đi tìm tài sản để lấy trộm. Khi đi ngang qua tiệm tạp hóa “Cô Tiên” thuộc khu phố 3, thị trấn Bến Cầu, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh do bà Bùi Thanh Tuyền làm chủ. Bữu A phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng – đen – bạc, biển số 70C1-213.28 của anh Trần Thanh P đang dựng trước cửa tiệm, không có người trông coi. Bữu A dừng xe lại đứng bên ngoài cảnh giới để V đi bộ vào trộm xe của anh P . Sau khi trộm được xe, V điều khiển về cửa khẩu Tho Mo, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An bán cho Phon với giá 8.000.000 đồng, cả 02 chia mỗi người 4.000.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Nguyễn Vũ L, Nguyễn Văn Bữu A, Nguyễn Quốc V và Nguyễn Thành L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

* Kết luận định giá tài sản

Bản kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐG, ngày 07/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Tân Châu, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future FI, màu đỏ - đen, biển số 70K1-682.96, số máy JC90E0136488, số khung RLHJC7642MY010812 tại thời điểm ngày 10/02/2022 trị giá là 28.667.000 đồng.

Bản kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐG, ngày 07/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Tân Châu, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ - đen, biển số 70K1-658.20, tại thời điểm ngày 24/02/2022 trị giá là 13.667.000 đồng.

Bản kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐG, ngày 04/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Tân Châu, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Excite màu đen –hồng, biển số 70H1-484.11, số khung RLCUG1010LY250389, số máy G3D4E1021419, tại thời điểm ngày 01/3/2022 trị giá là 31.167.000 đồng.

Bản kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐG, ngày 26/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Tây Ninh, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125i màu trắng, biển số 70E1-150.36, số máy 1014268KTFE1, số khung 23B09F007622 tại thời điểm ngày 09/01/2022 trị giá là 90.000.000 đồng.

Bản kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐG, ngày 26/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Tây Ninh, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ đen, biển số 60B7-565-14, số máy JA38E0324001, số khung 3828GY150880 tại thời điểm ngày 18/01/2022 trị giá là 10.000.000 đồng.

Bản kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐG, ngày 26/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Tây Ninh, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ đen, biển số 70B1-471.37, số máy JF58E0101825, số khung RLHJF5805EY101693 tại thời điểm ngày 22/02/2022 trị giá là 22.000.000 đồng.

Bản kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐG, ngày 26/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Tây Ninh, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125i màu đỏ đen, biển số 70C1-112.08, số máy JF42E-0061620, số khung JF4211DY061588 tại thời điểm ngày 24/02/2022 trị giá là 35.000.000 đồng.

Bản kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐG, ngày 26/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Tây Ninh, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng đen, biển số 70D1-353.80, số máy HC12E7162056, số khung 1250FY162018 tại thời điểm ngày 24/02/2022 trị giá là 10.000.000 đồng.

Bản kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐG, ngày 26/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Tây Ninh, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode màu trắng đen, biển số 70B1-431.20, tại thời điểm ngày 02/3/2022 trị giá là 27.000.000 đồng.

Bản kết luận định giá tài sản số 24/KLĐG-TTHS, ngày 28/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Hòa Thành, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future X F1 màu đỏ - đen - bạc, biển số 62N1-762.95, số máy JC45E0083412, số khung RLHJC3504AY233355, tại thời điểm ngày 26/11/2021 trị giá là 27.000.000 đồng.

Bản kết luận định giá tài sản số 01/KLĐG-TTHS, ngày 10/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Hòa Thành, kết luận:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150i màu xanh đen, biển số 29U1-252.72, số máy KP14B0133369, số khung 1430FY033415, tại thời điểm ngày 17/12/2021 trị giá là 32.000.000 đồng.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus 64GB màu đen bên trong có gắn sim 0968791130 tại thời điểm ngày 17/12/2021 trị giá là 2.500.000 đồng.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus 64GB màu trắng bên trong có gắn sim 0378552472 tại thời điểm ngày 17/12/2021 trị giá là 2.800.000 đồng.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu trắng bên trong có gắn sim 0909761357 tại thời điểm ngày 17/12/2021 trị giá là 1.500.000 đồng.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme 5 màu xanh bên trong có gắn sim 0938790853 tại thời điểm ngày 17/12/2021 trị giá là 1.000.000 đồng.

- 01 đồng hồ đeo tay nam nhãn hiệu MiChael Kors, loại sử dụng pin, màu xanh, dây bằng kim loại tại thời điểm ngày 17/12/2021 trị giá là 1.999.000 đồng.

- 01 nhẫn cưới vàng 18K trọng lượng 01 chỉ tại thời điểm ngày 17/12/2021 trị giá là 3.756.600 đồng.

Bản kết luận định giá tài sản số 34/KLĐG-TTHS ngày 29/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Hòa Thành, kết luận: 01 túi đeo chéo nam màu nâu, chất liệu da không rõ, có kích thước ngang 24cm, cao 28cm, không đủ thông tin về nhãn hiệu, chủng loại, không có cơ sở định giá.

Bản kết luận định giá tài sản số 25/KLĐG-TTHS ngày 28/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Hòa Thành, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, dung tích 125cm3, màu trắng – đen, biển số 70G1-835.92, số khung MH1JM5113LK702443, số máy JM51E1703839 tại thời điểm ngày 27/02/2022 trị giá là 37.000.000 đồng.

Bản kết luận định giá tài sản số 11/KLĐG-TTHS ngày 09/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Hòa Thành, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, dung tích 149cm3 màu xanh xám, biển số 70G1-407.48, số khung 0610FY104155, số máy G3D4E116261 tại thời điểm ngày 02/3/2022 trị giá là 24.000.000 đồng.

Bản kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 19/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Dương Minh Châu, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winer X, màu đỏ - đen, biển số 61K1-223.19 tại thời điểm ngày 27/02/2022 trị giá là 23.000.000 đồng.

Bản kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTTTHS ngày 07/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bến Cầu, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, dung tích 109 cm3, màu trắng – đen – bạc, biển số 70C1-213.28, số khung 3906HY085073, số máy JA39E0085127 tại thời điểm ngày 28/02/2022 trị giá là 10.500.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 81/CT-VKSTC ngày 29/8/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Vũ L, Nguyễn Văn Bữu A, Nguyễn Quốc V, Nguyễn Thành L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Vũ L, Nguyễn Văn Bữu A, Nguyễn Quốc V, Nguyễn Thành L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Đề nghị áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; các điểm a, b, g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ L từ 12 năm tù đến 13 năm tù.

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Bữu A từ 11 năm tù đến 12 năm tù.

- Đề nghị áp dụng các điểm a, c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; các điểm b, g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc V từ 42 tháng tù đến 48 tháng tù.

- Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù.

- Ghi nhận các bị cáo L, Bữu A đồng ý bồi thường cho anh T 43.000.000 đồng; buộc các bị cáo bồi thường cho các bị hại còn lại theo quy định của pháp luật.

- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng không còn giá trị sử dụng và tịch thu sung vào ngân sách nhà nước những tài sản có giá trị sử dụng đã thu giữ của các bị cáo.

Các bị cáo L, Bữu A , V và anh T không tranh luận.

Lời nói sau cùng của các bị cáo L, Bữu A , V: Các bị cáo đều đã biết sai và xin giảm nhẹ hình phạt.

NH ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của các bị cáo thể hiện: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Vũ L, Nguyễn Văn Bữu A, Nguyễn Quốc V, Nguyễn Thành L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, đã có đủ căn cứ xác định: Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân, các bị cáo đã có sự bàn bạc thống nhất ý chí, chuẩn bị công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi, phân công vai trò cụ thể của từng bị cáo, ai trực tiếp đi trộm thì được hưởng L1 bất chính từ tài sản trộm cắp được. Trong đó, bị cáo L là người rủ rê và trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp, bị cáo Bữu A chuẩn bị phương tiện và cảnh giới, bị cáo V trực tiếp lấy trộm tài sản, cảnh giới, bị cáo L1 cảnh giới. Trong khoảng thời gian từ tháng 11/2021 đến tháng 3/2022, trên địa bàn thành phố Tây Ninh, thị xã Hòa Thành, huyện Tân Châu, huyện Bến Cầu và huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Vũ L, Nguyễn Văn Bửu Ai, Nguyễn Quốc V, Nguyễn Thành L đã cùng nhau thực hiện 15 vụ trộm cắp xe mô tô của các bị hại gồm: Anh Thái Doãn T, anh Phan Hoàng M, chị Dương Thị Diễm T, chị Trần Thị Thúy V, chị Phan Thị Như Y, chị Nguyễn Thị Cẩm T, chị Nguyễn Minh T, chị Đinh Thị Bích T, chị Nguyễn Thị Thu T, anh Trần Thanh H, chị Nguyễn Thị Thu C, anh Nguyễn Minh T, chị Lê Thị Ngọc V, anh Biện Tấn H, anh Trần Thanh P. Tổng giá trị tài sản bị các bị cáo chiếm đoạt là 434.556.600 đồng. Trong đó, Nguyễn Văn Bữu A đã trực tiếp thực hiện 13 vụ, giá trị tài sản chiếm đoạt là 362.001.000 đồng; Nguyễn Vũ L trực tiếp thực hiện 12 vụ trộm, giá trị tài sản chiếm đoạt 373.059.600 đồng; Nguyễn Quốc V trực tiếp thực hiện 05 vụ, giá trị tài sản chiếm đoạt là 93.500.000 đồng; Nguyễn Thành L trực tiếp thực hiện 01 vụ, giá trị tài sản chiếm đoạt là 45.555.600 đồng. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Vũ L, Nguyễn Văn Bữu A phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173; bị cáo Nguyễn Quốc V chỉ phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại các điểm a, c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Thành L chỉ phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như luận tội của vị Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

[3] Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng; hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Khi thực hiện tội phạm, các bị cáo biết rõ việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của mình gây ra và cần xử lý nghiêm.

[4] Trong vụ án này các bị cáo phạm tội trong trường hợp có tổ chức, có sự câu kết chặt chẽ, có sự bàn bạc thống nhất ý chí, chuẩn bị công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi, phân công vai trò cụ thể của từng bị cáo và phạm tội có tính chất chuyên nghiệp. Trong đó, bị cáo L có nhân thân xấu, là người rủ rê, khởi xướng, phân công vai trò, nhiệm vụ cho các bị cáo khác và trực tiếp thực hiện 12 vụ trộm tài sản có tổng giá trị 373.059.600 đồng, có vai trò tích cực nhất nên chịu trách nhiệm hình sự cao nhất. Bị cáo Bữu A có nhân thân xấu, tham gia chuẩn bị phương tiện và cảnh giới, trực tiếp thực hiện 13 vụ trộm tài sản có tổng giá trị là 362.001.000 đồng, có vai trò thấp hơn bị cáo L nên chịu trách nhiệm hình sự thấp hơn bị cáo L. Bị cáo V có tiền án, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội, trực tiếp thực hiện 05 vụ trộm tài sản có tổng giá trị là 93.500.000 đồng và cảnh giới, có vai trò thấp hơn bị cáo Bữu A nên chịu trách nhiệm hình sự thấp hơn bị cáo Bữu A. Bị cáo L1 có nhân thân xấu, chỉ trực tiếp thực hiện 01 vụ trộm tài sản có giá trị là 45.555.600 đồng và cảnh giới, có vai trò thấp nhất nên chịu trách nhiệm hình sự thấp nhất.

[5] Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

[5.1] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo L, Bữu A đều phạm tội có tổ chức, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, phạm tội từ 02 lần trở lên theo quy định tại các điểm a, b, g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo V phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, phạm tội từ 02 lần trở lên, tái phạm theo quy định tại các điểm b, g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo L1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Xét thấy, với hành vi phạm tội của các bị cáo cần xử phạt tù nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

[7.1] Các bị cáo L, Bữu A cùng có nghĩa vụ bồi thường cho các bị hại sau đây: Anh Thái Doãn T số tiền 43.000.000 đồng, anh Phan Hoàng M số tiền 13.667.000 đồng; chị Dương Thị Diễm T số tiền 31.167.000 đồng, chị Trần Thị Thúy V số tiền 90.000.000 đồng, chị Phan Thị Như Y số tiền 10.000.000 đồng, chị Nguyễn Minh T số tiền 35.000.000 đồng, chị Nguyễn Thị Thu C số tiền 37.000.000 đồng, anh Nguyễn Minh T số tiền 23.000.000 đồng; trong đó, mỗi bị cáo bồi thường ½ số tiền tương ứng cho từng bị hại.

[7.2] Các bị cáo L, Bữu A , V cùng có nghĩa vụ bồi thường cho các bị hại sau đây: Chị Đinh Thị Bích T số tiền 10.000.000 đồng, chị Nguyễn Thị Cẩm T số tiền 22.000.000 đồng; trong đó, mỗi bị cáo bồi thường 1/3 số tiền tương ứng cho từng bị hại.

[7.3] Các bị cáo L, L1 cùng có nghĩa vụ bồi thường cho anh Trần Thanh H số tiền 13.556.000 đồng; trong đó, mỗi bị cáo bồi thường ½ số tiền nêu trên.

[7.4] Bị cáo L có nghĩa vụ bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thu T số tiền 27.000.000 đồng.

[7.5] Các bị cáo Bữu A, V cùng có nghĩa vụ bồi thường cho các bị hại sau đây: Chị Lê Thị Ngọc V số tiền 27.000.000 đồng, anh Nguyễn Tấn Hạnh số tiền 24.000.000 đồng, anh Trần Thanh P số tiền 10.500.000 đồng; trong đó, mỗi bị cáo bồi thường ½ số tiền tương ứng cho từng bị hại.

[7.6] Như vậy, tổng số tiền bị cáo L phải bồi thường cho các bị hại là 201.860.500 đồng; tổng số tiền bị cáo Bữu Aphải bồi thường cho các bị hại là 182.832.500 đồng; tổng số tiền bị cáo V phải bồi thường cho các bị hại là 41.416.000 đồng; số tiền bị cáo L1 phải bồi thường cho bị hại là 22.778.000 đồng.

[8] Về xử lý vật chứng:

[8.1] Anh Hải đã nhận lại xe mô tô biển số 29U1-252.72 cần ghi nH.

[8.2] Đối với 03 USB, 05 đĩa CD có chứa nội dung ghi hình các bị cáo trộm cắp xe mô tô của các bị hại được lưu vào hồ sơ vụ án.

[8.3] Đối với 01 mũ bảo hiểm màu xám có dòng chữ NON SON, 01 túi xách màu nâu có dòng chữ COVERIS, 02 chiếc dép màu đen có chữ TIAIPI và hoa văn hình người màu trắng, 02 chiếc dép màu đen có chữ HỒNG HẠNH, 02 chiếc giày vải có sọc màu xanh đỏ, 02 găng tay có chữ adias, 01 mũ lưỡi trai màu đỏ, 01 quần Jean màu xanh có chữ HO, 01 áo sơ mi ngắn tay sọc carô màu xanh trắng, 01 áo khoác màu đen có chữ drew, 01 áo khoác màu đen có chữ Jeep, 01 chìa khóa có chữ TOYOTA thu giữ của bị cáo L không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[8.4] Đối với 01 mũ bảo hiểm màu xanh có chữ NON SON, 01 cần siết lực bằng kim loại có quấn keo đen, 02 đoạn kim loại hình trụ tròn (ống điếu) dùng để bẻ khóa xe lấy trộm, 01 chìa khóa xe mô tô có dòng chữ HONDA, 01 chìa khóa xe mô tô có chữ số A7802080, 01 đoạn kim loại hình trụ vuông có quấn băng keo màu đen, 04 đoạn kim loại một đầu lục giác đầu còn lại dẹp thu giữ của bị cáo Bữu A không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[8.5] Đối với biển số xe mô tô 70E1-247.11 thu giữ của các bị cáo L, L1 không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[8.6] Đối với: Xe mô tô Suzuki Satria màu đỏ đen biển số 60H1-206.80, số máy CGA1-ID202693, số khung MH8DL11AZKJ202638; điện thoại di động Samsung Galaxy A12, số imei khe 1: 354312130357222 và số tiền 8.000.000 đồng thu giữ của bị cáo Bữu A; 01 điện thoại di động Nokia màu xanh, model: TA-1174, số imei 1: 351639348526823, số imei 2: 351639349526822 bên trong có gắn sim của nhà mạng Mobifone có số seri: 8401-2108-5125-7033 và số tiền 500.000 đồng thu giữ của bị cáo V là công cụ, phương tiện phạm tội và tiền thu L1 bất chính của các bị cáo trên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

[8.7] Đối với xe mô tô Suzuki biển số 51Y1-3779, số máy F125-ID606792, số khung MHDPP13B12J60674; 01 điện thoại di động Oppo A55, số imei 1: 866787054662213; 01 điện thoại Nokia 105 có số seri 1: 354275382208783 và số tiền 8.800.000 đồng thu giữ của bị cáo L là công cụ phạm tội và tài sản thu L1 bất chính của bị cáo cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

[8.8] Đối với xe mô tô Suzuki biển số 51Y1-3779, số máy F125-ID606792, số khung MHDPP13B12J60674 thu giữ của bị cáo L là tài sản do bị cáo phạm tội mà có cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.

[9] Đối với H, Nên là những người cùng tham gia trộm cắp tài sản; 02 người Campuchia tên Ken (Bót) và Phon là những người tiêu thụ các xe mô tô do các bị cáo trộm cắp bán lại chưa xác định được nhân thân, lại lịch, khi nào xác định được xử lý sau.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; các điểm a, b, g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ L 12 (mười hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/3/2022.

2. Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; các điểm a, b, g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Bữu A 11 (mười một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2022/HS-ST ngày 15/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai Bản án là 12 (mười hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/3/2022.

3. Căn cứ vào các điểm a, c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; các điểm b, g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc V 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/3/2022.

4. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2022/HS-ST ngày 09/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai Bản án là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/01/2022.

5. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 589 của Bộ luật Dân sự 2015:

5.1. Buộc các bị cáo Nguyễn Vũ L, Nguyễn Văn Bữu A cùng có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho các bị hại sau đây: Anh Thái Doãn T số tiền 43.000.000 (bốn mươi ba triệu) đồng, anh Phan Hoàng M số tiền 13.667.000 (mười ba triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn) đồng; chị Dương Thị Diễm T số tiền 31.167.000 (ba mươi mốt triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn) đồng, chị Trần Thị Thúy V số tiền 90.000.000 (chín mươi triệu) đồng, chị Phan Thị Như Y số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng, chị Nguyễn Minh T số tiền 35.000.000 (ba mươi lăm triệu) đồng, chị Nguyễn Thị Thu C số tiền 37.000.000 (ba mươi bảy triệu) đồng, anh Nguyễn Minh T số tiền 23.000.000 (hai mươi ba triệu) đồng; trong đó, mỗi bị cáo bồi thường ½ số tiền tương ứng cho từng bị hại.

5.2. Buộc các bị cáo Nguyễn Vũ L, Nguyễn Văn Bữu A, Nguyễn Quốc V cùng có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho các bị hại sau đây: Chị Đinh Thị Bích T số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng, chị Nguyễn Thị Cẩm T số tiền 22.000.000 (hai mươi hai triệu) đồng; trong đó, mỗi bị cáo bồi thường 1/3 số tiền tương ứng cho từng bị hại.

5.3. Buộc các bị cáo Nguyễn Vũ L, Nguyễn Thành L cùng có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho anh Trần Thanh H số tiền 13.556.000 (mười ba triệu năm trăm năm mươi sáu nghìn) đồng; trong đó, mỗi bị cáo bồi thường ½ số tiền nêu trên.

5.4. Buộc bị cáo Nguyễn Vũ L có nghĩa vụ bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thu T số tiền 27.000.000 (hai mươi bảy triệu) đồng.

5.5. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn Bữu A, Nguyễn Quốc V cùng có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho các bị hại sau đây: Chị Lê Thị Ngọc V số tiền 27.000.000 (hai mươi bảy triệu) đồng, anh Biện Tấn H số tiền 24.000.000 (hai mươi bốn triệu) đồng, anh Trần Thanh P số tiền 10.500.000 (mười triệu năm trăm nghìn) đồng; trong đó, mỗi bị cáo bồi thường ½ số tiền tương ứng cho từng bị hại.

6. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

6.1. Ghi nhận anh Trần Thanh H đã nhận lại xe mô tô biển số 29U1-252.72.

6.2. Lưu vào hồ sơ vụ án 03 USB, 05 đĩa CD có chứa nội dung ghi hình các bị cáo trộm cắp xe mô tô của các bị hại.

6.3. Tịch thu tiêu hủy: 01 mũ bảo hiểm màu xám có dòng chữ NON SON, 01 túi xách màu nâu có dòng chữ COVERIS, 02 chiếc dép màu đen có chữ TIAIPI và hoa văn hình người màu trắng, 02 chiếc dép màu đen có chữ HỒNG HẠNH, 02 chiếc giày vải có sọc màu xanh đỏ, 02 găng tay có chữ adias, 01 mũ lưỡi trai màu đỏ, 01 quần Jean màu xanh có chữ HO, 01 áo sơ mi ngắn tay sọc carô màu xanh trắng, 01 áo khoác màu đen có chữ drew, 01 áo khoác màu đen có chữ Jeep, 01 chìa khóa có chữ TOYOTA thu giữ của bị cáo Nguyễn Vũ L.

6.4. Tịch thu tiêu hủy: 01 mũ bảo hiểm màu xanh có chữ NON SON, 01 cần siết lực bằng kim loại có quấn keo đen, 02 đoạn kim loại hình trụ tròn (ống điếu) dùng để bẻ khóa xe lấy trộm, 01 chìa khóa xe mô tô có dòng chữ HONDA, 01 chìa khóa xe mô tô có chữ số A7802080, 01 đoạn kim loại hình trụ vuông có quấn băng keo màu đen, 04 đoạn kim loại một đầu lục giác đầu còn lại dẹp thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn Bữu A.

6.5. Tịch thu tiêu hủy biển số xe mô tô 70E1-247.11.

6.6. Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: Xe mô tô Suzuki Satria màu đỏ đen biển số 60H1-206.80, số máy CGA1-ID202693, số khung MH8DL11AZKJ202638; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A12, số imei khe 1: 354312130357222 và số tiền 8.000.000 (tám triệu) đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn Bữu A.

6.7. Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Nokia màu xanh, model: TA-1174, số imei 1: 351639348526823, số imei 2: 351639349526822 bên trong có gắn sim của nhà mạng Mobifone có số seri: 8401-2108-5125-7033 và số tiền 500.000 (năm trăm nghìn) đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Quốc V.

6.8. Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: Xe mô tô Suzuki biển số 51Y1-3779, số máy F125-ID606792, số khung MHDPP13B12J60674; 01 điện thoại di động Oppo A55, số imei 1: 866787054662213; 01 điện thoại Nokia 105 có số seri 1: 354275382208783 và số tiền 8.800.000 (tám triệu tám trăm nghìn) đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Vũ L.

(Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/9/2022).

7. Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Nguyễn Vũ L, Nguyễn Văn Bữu A, Nguyễn Quốc V, Nguyễn Thành L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Vũ L phải chịu 10.093.000 (mười triệu không trăm chín mươi ba nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm; bị cáo Nguyễn Văn Bữu A phải chịu 9.142.000 (chín triệu một trăm bốn mươi hai nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm; bị cáo Nguyễn Quốc V phải chịu 2.071.000 (hai triệu không trăm bảy mươi mốt nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm; bị cáo Nguyễn Thành L phải chịu 1.139.000 (một triệu một trăm ba mươi chín nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm;

8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

9. Về quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo L, Bữu A, V và anh Thắng biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị cáo L1 và các bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ. Nơi nH:

Cỡ chữ