vanban.org

Bản án 97/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đinh O về tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn anh Phạm Văn T1.

1 Về hôn nhân: Chị Đinh O được ly hôn với anh Phạm Văn T1 (Giấy chứng nhận kết hôn số 39, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã A, huyện L, tỉnh Hà Nam cấp ngày 15/8/2011). 2 Về con chung: Giao con chung tên Phạm Gia B, sinh ngày 20/11/2012 và Phạm Gia P, sinh ngày 12/10/2016 cho chị Đinh O trực tiếp n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đinh O về tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn anh Phạm Văn T1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 97/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 24-6-2022
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa;

2. Ông Tô Văn Nhung.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Bương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 248/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2022 về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/6/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 60/2022/QĐST-HNGĐ ngày 18/5/2022, giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Chị Đinh O, sinh năm 1990; thường trú: Thôn T, xã A, huyện L, tỉnh Hà Nam;

2/ Bị đơn: Anh Phạm Văn T1, sinh năm 1986; thường trú: Thôn T, xã A, huyện L, tỉnh Hà Nam; tạm trú: 58/10 Nguyễn Hữu Cảnh, khu phố A, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

(Chị Đinh Thị O có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, anh Phạm Văn T1 vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 04/4/2022 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Đinh O trình bày:

Chị Đinh O và anh Phạm Văn T1 tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2011, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện L, tỉnh Hà Nam theo Giấy chứng nhận kết hôn số 39, quyển số 01 ngày 15/8/2011, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, được gia đình hai bên chấp thuận. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại khu phố A, phường Đ, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Hai vợ chồng chung sống đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau. Ngoài ra anh T1 còn cờ bạc, cá độ dẫn đến nợ nần, không phụ chăm lo cho con cái và hỗ trợ chi phí sinh hoạt trong gia đình. Anh, chị đã cho nhau cơ hội để thay đổi nhưng không có kết quả, cuộc sống hôn nhân ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay Chị O xác định không còn tình cảm với anh T1 nên yêu cầu được ly hôn với anh T1.

Về con chung: Quá trình chung sống, Chị O và anh T1 có 02 con chung tên Phạm Gia Bảo, sinh ngày 20/11/2012 và Phạm Gia P, sinh ngày 12/10/2016. Hiện các con chung đang sinh sống cùng với Chị O, Chị O yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Chị O không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn anh Phạm Văn T1: Quá trình tố tụng, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn để làm việc, lấy lời khai; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Đồng thời, bị đơn cũng không có ý kiến, yêu cầu gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Tại bản tự khai ngày 13/5/2022, cháu Phạm Gia Bảo trình bày: Cháu là con của ba Phạm Văn Tuyên và mẹ Đinh O. Nếu ba, mẹ ly hôn cháu có mong muốn được sống cùng mẹ vì mẹ rất thương yêu cháu.

- Ngày 26/4/2022, Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị Đinh O và anh Phạm Văn T1 tại Hội Liên hiệp phụ nữ phường Đ và được cung cấp như sau: Trước khi nộp đơn ly hôn tại Tòa án, chị Đinh O không có đơn yêu cầu Hội liên hiệp phụ nữ phường Đ tiến hành hòa giải. Hội liên hiệp phụ nữ phường Đ, thành phố D cũng không có thông tin trình báo về mâu thuẫn giữa vợ, chồng chị Đinh O và anh Phạm Văn T1. Vì vậy, về tình trạng quan hệ hôn nhân, nghề nghiệp, nguyên nhân mẫu thuẫn giữa anh, chị Hội liên hiệp phụ nữ phường Đ không biết được.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trình bày quan điểm về việc tuân theo pháp luật, quan điểm giải quyết vụ án: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng yêu cầu bị đơn tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 13/5/2022 nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn có đơn đề nghị không hòa giải, do vậy vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, Tòa án căn cứ vào các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh O và anh Phạm Văn T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam theo Giấy chứng nhận kết hôn số 39, quyển số 01 ngày 15/8/2011 đúng với quy định của pháp luật, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Chị O xác định vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau. Ngoài ra anh T1 còn đam mê cờ bạc, cá độ dẫn đến nợ nần, không phụ Chị O trong vấn đề chăm sóc con cái. Tòa án đã xác minh tình trạng hôn nhân tại Hội liên hiệp phụ nữ phường Đ nhưng Hội liên hiệp phụ nữ phường Đ không biết nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ, chồng anh, chị. Quá trình tố tụng, Tòa án đã triệu tập anh T1 đến Tòa án để hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh T1 không đến, đồng thời Chị O có đơn từ chối hòa giải. Căn cứ vào lời khai của Chị O có cơ sở xác định trong cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, tình trạng hôn nhân đã trầm trọng và cả hai đều không muốn hàn gắn. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của Chị O là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Đinh O có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung tên Phạm Gia B, sinh ngày 20/11/2012 và Phạm Gia P, sinh ngày 12/10/2016.

Xét thấy, hiện cháu Bảo và cháu Phúc đang sinh sống ổn định cùng chị Oanh. Cháu Bảo có nguyện vọng được sống cùng mẹ khi ba, mẹ ly hôn. Bản thân cháu Phúc còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ nhiều hơn. Quá trình tố tụng, anh T1 không có ý kiến gì về việc chị Oanh yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung. Vì vậy, căn cứ vào Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án giao hai con chung Phạm Gia B và Phạm Gia P cho chị Đinh O trực tiếp nuôi dưỡng để đảm bảo được quyền lợi về mọi mặt của con chung.

Về cấp dưỡng: Chị Oanh không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của chị Oanh nên Tòa án ghi nhận.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét.

Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An về quan điểm giải quyết vụ án.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đinh O phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 207, Điều 227, Điều 228 và 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đinh O về tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn anh Phạm Văn T1.

1.1 Về hôn nhân: Chị Đinh O được ly hôn với anh Phạm Văn T1 (Giấy chứng nhận kết hôn số 39, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã A, huyện L, tỉnh Hà Nam cấp ngày 15/8/2011).

1.2 Về con chung: Giao con chung tên Phạm Gia B, sinh ngày 20/11/2012 và Phạm Gia P, sinh ngày 12/10/2016 cho chị Đinh O trực tiếp nuôi dưỡng.

Sau ly hôn, chị Đinh O và anh Phạm Văn T1 đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.

1.3 Về cấp dưỡng: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Đinh O không yêu cầu anh Phạm Văn T1 cấp dưỡng nuôi con.

1.4 Tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đinh O phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003721 ngày 14/4/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

3. Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự .

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ