- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thanh T - Nguyễn Phú Q "ly hôn, chia tài sản khi ly hôn""
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh T
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 97/2022/HNGĐ - ST Ngày 12 tháng 12 năm 2022 “V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lương Văn Kiên
2. Ông Phan Minh Đức
- Thư ký phiên tòa: Ông Thủy Sơn Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P tham gia phiên tòa: Bà Cao Thảo Nga
- Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 12 năm 2022 tại Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 837/2022/TLST- HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2022 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1997
Địa chỉ: Thôn PK, xã CT, huyện PC, tỉnh Bình Định
Vắng mặt có Đơn xin xét xử vắng mặt
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Phú Q, sinh năm 1996
Địa chỉ: 36/22A PNL, tổ 06, phường TB, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T vắng mặt nhưng tại đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 3 năm 2022, bản tự khai ngày 14 tháng 3 năm 2022 cùng các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, ý kiến của chị Nguyễn Thị Thanh T như sau:
Chị và anh Nguyễn Phú Q tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã XA, thị xã AK, tỉnh Gia Lai ngày 29 tháng 11 năm 2017. Sau khi kết hôn, chị và anh Q chung sống với gia đình bên nội tại Thôn AX 3, xã XA, thị xã AK, tỉnh Gia Lai sau đó do khả năng kinh tế nên chị đã cùng gia đình chồng bán nhà tại thị xã AK để thuê phòng tại 36/22A PNL, tổ 06, phường TB, thành phố P, tỉnh Gia Lai sinh sống. Thời gian đầu, chị và anh Q chung sống hạnh phúc. Đến năm 2021, do anh Q nghiện cờ bạc, gây nợ nần nghiêm trọng, thiếu trách nhiệm đối với chị và con nên anh chị thường xuyên phát sinh tranh cãi; mâu thuẫn ngày càng lớn dẫn đến chị đã đưa con về PC, Bình Định sinh sống từ tháng 10/2021 đến nay. Trong thời gian sống ly thân, anh chị đều có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Nay chị nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với anh Q nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn giữa chị và anh Nguyễn Phú Q.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Phú Q có 01 (một) con chung là cháu Nguyễn Ngọc Quỳnh N, sinh ngày 25 tháng 12 năm 2017. Cháu N từ nhỏ đã sống với chị nên chị có nguyện vọng tiếp tục được nuôi dưỡng, chăm sóc cháu.
Tại đơn khởi kiện, chị yêu cầu anh Nguyễn Phú Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con với số tiền 2.000.000đồng/tháng. Tuy nhiên tại Đơn đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ngày 23 tháng 11 năm 2022 chị thay đổi yêu cầu khởi kiện, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con, bản thân chị có đủ điều kiện về kinh tế để chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Quỳnh N.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Chị và anh Nguyễn Phú Q không có tài sản chung và nghĩa vụ chung phải thực hiện nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Phú Q:
Anh Nguyễn Phú Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để anh Q trình bày ý kiến về yêu cầu ly hôn, giải quyết về con chung của chị Nguyễn Thị Thanh T nhưng anh Q không đến Tòa án làm việc. Vì vậy Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng theo luật định để xét xử vắng mặt bị đơn.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P có ý kiến như sau:
Về trình tự, thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thị xã AK, tỉnh Gia Lai đã có văn bản số 778/TA ngày 08 tháng 11 năm 2022 chuyển lại hồ sơ vụ án về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” giữa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T và bị đơn anh Nguyễn Phú Q cho Tòa án nhân dân thành phố P giải quyết theo thẩm quyền. Do đó, Tòa án thụ lý và giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về thụ lý vụ án, thẩm quyền giải quyết vụ án, thu thập chứng cứ, thông báo về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như trình tự phiên tòa. Đảm bảo về thời hạn chuẩn bị xét xử. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T chấp hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng. Đối với bị đơn anh Nguyễn Phú Q, việc chấp hành theo pháp luật tố tụng còn hạn chế.
Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh T về yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Phú Q, giao 01 (một) con chung là cháu Nguyễn Ngọc Quỳnh N, sinh ngày 25 tháng 12 năm 2017 cho chị Nguyễn Thị Thanh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Thanh T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Nguyễn Phú Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không thuộc trường hợp cấm kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã XA, thị xã AK, tỉnh Gia Lai ngày 29 tháng 11 năm 2017. Hôn nhân của anh chị tuân thủ theo các Điều 8, 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên hôn nhân hợp pháp.
Do mâu thuẫn gia đình, chị Nguyễn Thị Thanh T yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Phú Q đồng thời giải quyết về vấn đề con chung, bị đơn anh Q cư trú cùng cha mẹ tại phòng trọ số 15 nhà trọ số 36/22A PNL, tổ 06, phường TB, thành phố P, tỉnh Gia Lai nên thẩm quyền giải quyết thuộc về Tòa án nhân dân thành phố P theo loại việc, theo lãnh thổ và theo cấp xét xử.
Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Phú Q đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án để anh trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị T, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải đoàn tụ, hòa giải về hôn nhân, con chung và các vấn đề khác cũng như tham gia phiên tòa nhưng anh Q vắng mặt. Do đó căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Việc chị Nguyễn Thị Thanh T thay đổi yêu cầu khởi kiện về cấp dưỡng nuôi dưỡng con chung theo hướng không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề này, Hội đồng xét xử nhận định việc thay đổi không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nên căn cứ vào khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ lời khai của của chị Nguyễn Thị Thanh T cùng nội dung xác minh tại chính quyền địa phương và thực tế chị T, anh Nguyễn Phú Q không cùng chung sống cho thấy anh chị đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2021. Như vậy trong quá trình chung sống, anh chị đã phát sinh nhiều mâu thuẫn làm rạn nứt nghiêm trọng tình cảm vợ chồng đến mức không thể tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân. Do không cùng chung sống, anh chị không còn sự quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau theo đúng tình nghĩa vợ chồng.
Từ đó có cơ sở khẳng định hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Nguyễn Phú Q phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh T, xử cho chị T được ly hôn với anh Nguyễn Phú Q.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Nguyễn Phú Q có 01 (một) con chung là cháu Nguyễn Ngọc Quỳnh N, sinh ngày 25 tháng 12 năm 2017.
Cháu Nguyễn Ngọc Quỳnh N là con gái, hiện đang sống với chị Nguyễn Thị Thanh T, bản thân chị T cũng có nguyện vọng tiếp tục được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N. Trên cơ sở đảm bảo sự phát triển ổn định về tâm sinh lý của cháu Nguyễn Ngọc Quỳnh N, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thanh T đối với con chung, theo đó giao cho chị Nguyễn Thị Thanh T trực tiếp nuôi con Nguyễn Ngọc Quỳnh N.
Vấn đề cấp dưỡng nuôi con cùng với vấn đề tài sản chung và nghĩa vụ chung: Chị Nguyễn Thị Thanh T không yêu cầu Tòa án giải quyết vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét trong cùng vụ án này.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh T phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 97, Điều 227, Điều 244, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 5, 8, 9, 19, 51, 53, 54, 56, 57, 81, 82, 83, 84 và 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 146, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh T
Chị Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với anh Nguyễn Phú Q
2. Về con chung:
Giao 01 (một) con chung là cháu Nguyễn Ngọc Quỳnh N, sinh ngày 25 tháng 12 năm 2017 cho chị Nguyễn Thị Thanh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh T phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp trước đây theo biên lai số 0001416 ngày 14 tháng 3 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P. Chị Nguyễn Thị Thanh T đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T và bị đơn anh Nguyễn Phú Q vắng mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai giải quyết theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án hoặc bản sao bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát thành phố P; - Chi cục thi hành án dân sự thành phố P; - Ủy ban nhân dân xã XA, thị xã AK, tỉnh Gia Lai (Chứng nhận kết hôn số 17 ngày 29/11/2017); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Võ Thị Thanh Thúy THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |