- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa Võ Thị Lệ T - Nguyễn Thành L"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân:Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị Lệ Tvới anh Nguyễn Thành L.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 97/2022/HNGĐ-ST Ngày: 09-9-2022. V/v tranh chấp về ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Văn;
2. Ông Nguyễn Văn Ninh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Mỹ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 32/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 02 năm 2022 về tranh chấp ly hônvà nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị Lệ T, sinh năm: 1996.
Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã G, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thành L, sinh năm: 1996.
Địa chỉ cư trú: Ấp X, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh.Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 01tháng 10năm 2021 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Võ Thị Lệ T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh L có tìm hiểu và chung sống với nhau vào năm 2018, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh ngày 30/01/2018. Sau khi cưới chị và anh L sống chung bên nhà anh L tại ấp X, xã P. Anh chị sống hạnh phúc đến khoảng tháng 06/2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh L thường xuyên uống rượu, và chơi cờ bạc không lo lắng gì cho gia đình, vợ chồng thường hay gây gỗ nhau nhiều lần do bất đồng về kinh tế gia đình. Đến tháng 6/2018 chị bỏ về nhà cha mẹ ruột chị sống và ly thân với anh L từ đó cho đến nay. Trong thời gian ly thân hai anh chị vẫn không hòa giải hàn gắn gia đình được. Nên nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Thành L
Về con chung: Chị và anh L có một con chung tên Nguyễn Võ An N, sinh ngày 18/01/2019. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợchung: Chị trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.
Đối với bị đơn - anh Nguyễn Thành L trình bày (Tại biên bản lấy lời khai ngày 19-7-2022):
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị T có tìm hiều vàchung sống với nhau vào năm 2018, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh ngày 30/01/2018. Sau khi cưới vợ chồng anh sống chung bên nhà anh tại ấp X, xã P. Đến khoảng tháng 06/2018 thì chị T kiếm chuyện và tự ý bỏ về nhà ba mẹ ruột tại ấp C, xã G sống và ly thân với anh chi đến nay. Trong thời gian ly thân, gia đình anh cũng có đến nhà chị T khuyên can, hòa giải nhiều lần nhưng chị T không đồng ý mà còn kiếm chuyện gây gỗ với anh, nguyên nhân chủ yếu là do mâu thuẫn về kinh tế gia đình. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với nhau được nữa nên anh đồng ý ly hôn với chị Võ Thị Lệ T.
Về con chung: Anh và chị Tcó 01 người con chung tên Nguyễn Võ An N, sinh ngày 18/01/2019, hiện tại con chung đang sống chung với chị T. Nay ly hôn anh đồng ý giao con cho chị T nuôi, anh không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Anh trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu tham gia phiên Tòa trình bày:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử: Thẩm phán, thư ký thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền, việc thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng:Nguyên đơn chị Võ Thị Lệ Tvà bị đơn anh Nguyễn Thành L có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh L là đúng theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu chưa thấy vấn đề vi phạm tố tụng nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử theo quy định.
Về nội dung vụ án:Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Lệ T, cho chị T được ly hôn với anh Nguyễn Thành L. Về con chung: Áp dụng Điều 81, Điều 82 và Điều 83 giao 01 con chung tên Nguyễn Võ An N, sinh ngày 18/01/2019cho chị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, chị T không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Chị T, anh Ltrình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 chị Võ Thị Lệ T phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Võ Thị Lệ T và anh Nguyễn Thành Lcó đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh Ltheo quy định tại Khoản 1 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Chị T, anh Ltrên cơ sở tự nguyện và đi đến hôn nhân từ năm 2018 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh ngày 30/01/2018 nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình làm việc chị T trình bày mâu thuẫn phát sinh là do trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên gây gỗ nhau, nguyên nhân chính là do bất đồng về kinh tế gia đình. Tại biên bản lấy lời khai ngày 19-07-2022, anh L trình bày vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng về kinh tế gia đình. Hiện tại hai anh chị đã sống ly thân từ khoảng tháng 6năm 2018 cho đến nay. Trong thời gian ly thân hai anh chị cũng không có biện pháp khắc phục hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay xét thấy tình trạng vợ chồng giữa chị T và anh L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, cho chị T được ly hôn với anh L là phù hợp.
Về con chung: Chị Võ Thị Lệ T và anh Nguyễn Thành L có 01 người con chung tên Nguyễn Võ An N, sinh ngày 18/01/2019. Hiện tại con chung đang sống chung với chị T. Nay ly hôn chị T yêu cầu được nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy: Cháu An Nhiện đang sống chung với chị T và anh L cũng đồng ý giao con chung cho chị T nuôi. Do vậy, cần giao cháu An N cho chị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về việc cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn, chị T không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con chung do vậy nên ghi nhận.
Anh Nguyễn Thành L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. .
Về tài sản chung: Chị Võ Thị Lệ T và anh Nguyễn Thành L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị Võ Thị Lệ T và anh Nguyễn Thành L trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí:Chị Võ Thị Lệ T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về hôn nhân:Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị Lệ Tvới anh Nguyễn Thành L.
Chị Võ Thị Lệ T được ly hôn với anh Nguyễn Thành L.
2. Về con chung:Giao 01 con chung tên Nguyễn Võ An N, sinh ngày 18/01/2019cho chị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Nguyễn Thành Lkhông phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không yêu cầu.
Anh Nguyễn Thành L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Chị Võ Thị Lệ T và anh Nguyễn Thành L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về nợ chung: Chị Võ Thị Lệ T và anh Nguyễn Thành L trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.
5. Về án phí: Chị Võ Thị Lệ T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, khấu trừ tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0023993 ngày 16 tháng 02 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Chị T đã nộp xong tiền án phí hôn nhân sơ thẩm
Anh Nguyễn Thành Lkhông phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Chị T, anh Lcó quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Phòng NVKT.TAT; - VKSND huyện Gò Dầu; - Chi cục THA Gò Dầu; - UBND xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Vân THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Vân |