vanban.org

Bản án 97/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14

ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, [1] Về hôn nhân: Bà N T Đ được ly hôn với ông N H A.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Điệp với ông Nguyễn Hoàng Anh"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 23-8-2022
V/v Ly hôn giữa bà Đ và
ông H A.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Đông Hòa

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phan Hữu Trí

Bà Trần Thị Quế Minh

-Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Sơn là Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên

tòa: Bà Cao Thị Thu Hồng Em – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành

xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 120/2022/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng

3 năm 2022 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

129/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2022 và Quyết định Hoãn

phiên tòa số 121/2022/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2022 giữa các đương

sự:

1. Nguyên đơn: Bà N T Đ, sinh ngày 18-7-1984

CMND số xxxxxxxxx Công an tỉnh An Giang cấp ngày 25-5-2006

Nơi cư trú: Tổ 14, ấp H L II, thị trấn A C, huyện C T, tỉnh An Giang.

Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 29-7-2022

2.Bị đơn: Ông N H A, sinh ngày 21-3-1984

CMND số xxxxxxxxx Công an thành phố Cần Thơ cấp ngày 22-11-2004

Nơi cư trú: Tổ 14, ấp H L II, thị trấn A C, huyện C T, tỉnh An Giang.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện xin ly hôn, Tờ tự khai ngày 13-12-2021 và Đơn xin xét

xử vắng mặt ngày 29-7-2022, nguyên đơn bà N T Đ trình bày:

+Về hôn nhân: Bà và ông N H A kết hôn năm 2006, hôn nhân do quen biết,

không tổ chức đám cưới. Có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn A C, huyện C T, tỉnh An Giang số 183 ngày 05-12-2018. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do ông H A thường hay uống rượu, không lo gia đình, ghen tuông vô cớ, dẫn đến bất đồng trong tình cảm vợ chồng. Từ tháng 4/2020 vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nay bà nhận thấy không còn tình cảm với ông H A, mục đích hôn nhân không đạt được, nên xin ly hôn với ông N H A.

+Về con chung: Có 03 con chung tên N T N T, sinh ngày 19-7-2007; N V

L, sinh ngày 16-11-2009 và N T K C, sinh ngày 21-11-2018. Hiện bà đang nuôi con. Nếu ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con.

+Về cấp dưỡng nuôi con: Bà không yêu cầu ông H A cấp dưỡng nuôi con.

+Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.

+Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và 2

lần thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông N H A, nhưng ông H A vẫn không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp chứng cứ, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Ngày 26-5-2022, Tòa án đến nhà ông H A để ghi lời khai, nhưng ông H A vắng mặt tại nhà. Do đó, Tòa án không nhận được ý kiến của ông H A.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 18-5-2022, cháu N T N T trình bày: Ba cháu

tên N H A, mẹ cháu tên N T Đ. Cháu học lớp 7, nghỉ học khoảng 2 năm. Ba cháu đang sống tại nhà ông nội, ba cháu hay nhậu, ba mẹ thường hay cải nhau, cháu biết ba mẹ cháu ly hôn. Cháu đang sống với mẹ. Nếu ba mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng sống với mẹ.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 18-5-2022, cháu N V L trình bày: Ba cháu

tên N H A, mẹ cháu tên N T Đ. Cháu học lớp 6. Ba cháu làm công nhân đông lạnh, ba cháu hay nhậu, ba mẹ thường hay cải nhau, cháu biết ba mẹ cháu ly hôn. Cháu đang sống với mẹ. Nếu ba mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng sống với mẹ.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 26-5-2022, ông N V N trình bày: Ông là bác

ruột của N H A. Cha của H A mất sớm ông nuôi H A và cho nhập hộ khẩu. H A cũng thường xuyên về thăm ông, cách nay khoảng 15 ngày H A có về thăm ông, vợ chồng H A – Đ không sống chung với ông nên ông không biết rõ mâu thuẫn.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang phát

biểu quan điểm như sau:

1/Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét

xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ Luật Tố tụng Dân sự.

2/Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu

cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung tiếp tục ổn định cho bà Đ nuôi

con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn bà N T Đ, bị đơn ông N H A,

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn

phiên tòa; nguyên đơn bà Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông H A vẫn

vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ Luật Tố tụng

Dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung đối

với nguyên đơn bà Đ và bị đơn ông H A.

[2] Về hôn nhân: Bà N T Đ và ông N H A kết hôn năm 2006, hôn nhân do

quen biết, không tổ chức đám cưới. Có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn A C,

huyện C T, tỉnh An Giang số 183 ngày 05-12-2018 theo quy định tại Điều 9

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên hôn nhân này là hợp pháp và được

pháp luật bảo vệ. Bà Đ có yêu cầu ly hôn. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tổ chức

hòa giải để hàn gắn lại tình cảm giữa bà Đ và ông H A, nhưng ông H A nhiều

lần vắng mặt nên không hòa giải được.

Xét thấy: Từ năm 2020, giữa bà Đ và ông H A phát sinh nhiều mâu thuẫn,

do ông H A thường hay uống rượu, không lo gia đình, ghen tuông vô cớ, dẫn

đến bất đồng trong tình cảm vợ chồng, dẫn đến vợ chồng sống ly thân từ tháng

4/2020 cho đến nay. Từ khi sống ly thân đến nay cả bà Đ và ông H A đều không

có thiện chí hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Điều này cho thấy mâu thuẫn giữa

bà Đ và ông H A là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn

nhân không đạt được. Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 1 Điều 56

của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Hội đồng xét xử xét thấy nên chấp

nhận yêu cầu của nguyên đơn là bà Đ được ly hôn với ông H A là có căn cứ và

phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về con chung: Bà N T Đ và ông N H A có 03 con chung, hiện bà Đ

đang nuôi con. Khi ly hôn bà Đ yêu cầu được tiếp tục nuôi 3 con. Ông H A

không có ý kiến.

Xét thấy: Cháu T đã trên 15 tuổi, cháu L gần 13 tuổi hiện đang sống với bà

Đ, bà Đ nuôi con chu đáo; cả cháu T và cháu L đều có nguyện vọng sống với bà

Đ khi bà Đ và ông H A ly hôn. Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 2

Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Vì vậy, để không làm thay

đổi cuộc sống cũng như sự phát triển tâm sinh lý của 3 cháu; Hội đồng xét xử

xét thấy nên để cho bà Đ được tiếp tục nuôi dưỡng 03 con chung là phù hợp.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Đ không yêu cầu ông H A cấp dưỡng nuôi

con. Ông H A không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung: Bà Đ trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án

giải quyết. Ông H A không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về nợ chung: Bà Đ trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải

quyết. Ông H A không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 4 Điều 147

của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, nguyên đơn bà Đ phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0003002 ngày 08-3-2022 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

[8] Về quyền kháng cáo: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại Điều 271

và Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn bà Đ, bị đơn ông H A vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39;

khoản 4 Điều 147; Các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự;

Các Điều 9, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14

ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,

Xử:

[1] Về hôn nhân: Bà N T Đ được ly hôn với ông N H A.

Giấy chứng nhận kết hôn số 183 ngày 05-12-2018 của UBND thị trấn A C,

huyện C T, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

[2] Về con chung: Bà N T Đ được tiếp tục nuôi dưỡng 03 con chung tên N

T N T, sinh ngày 19-7-2007; N V L, sinh ngày 16-11-2009 và N T K C, sinh ngày 21-11-2018.

Bà N T Đ và các thành viên trong gia đình bà Đ không được cản trở ông N

H A trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định tại khoản 2 Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Ông N H A lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu

đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà Đ có quyền yêu

cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của ông H A theo quy định tại khoản 3

Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về án phí: Nguyên đơn bà N T Đ phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn

đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ (ba trăm

ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí

tòa án số 0003002 ngày 08-3-2022 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu

Thành, tỉnh An Giang.

[4] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà N T Đ, bị đơn ông N H A vắng

mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận

được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân

sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi

hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Các điều 6, 7 và 9 Luật

thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều

30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ