vanban.org

Bản án 97/2022/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Thị H

Buộc chị Thạch Thị M có nghĩa vụ trả số tiền hụi sống còn nợ cho chị Thạch Thị H là 12.000.000 đồng. Chị H không yêu cầu tính lãi. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp góp hụi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Thị H
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 117 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIỂU CẦN
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2022/DS-ST
Ngày: 01-8-2022
V/v tranh chấp
hợp đồng góp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Long

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Thạch Hùng

Ông Nguyễn Hồng Quân

Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Nhi - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.

Ngày 01 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 136/2021/TLST-DS, ngày 26 tháng 11 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2022/QĐST- DS, ngày 17 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Thạch Thị H sinh năm 1973 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp Ô, xã H, huyện T, tỉnh T.

Bị đơn: Chị Thạch Thị M, sinh năm 1968 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Ô, xã H, huyện T, tỉnh T.

Người phiên dịch tiếng Khmer: Ông Thạch Thia Ri, giáo viên hưu trí (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp Cây Hẹ, xã Phú Cần, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04/3/2021, chị Thạch Thị H trình bày:

Vào ngày 16/12/2018 (dương lịch) chị có chơi hụi do chị Thạch Thị M làm đầu thảo (dây số 9), loại hụi 5.000.000 đồng, khui thao vụ lúa, gồm có 16 hụi viên, đầu thảo có giao danh sách hụi viên, đầu thảo hưởng huê hồng là 2.000.000 đồng, chị tham gia 02 phần.

Lần thứ 1: Bà M M kêu 2.000.000 đồng, chị H đóng hụi sống 3.000.000 x 2 = 6.000.000 đồng.

Lần 2: Bà Thê M kêu 2.500.000 đồng, chị H đóng hụi sống 2.500.000 đồng x 2 = 5.000.000 đồng

Lần 3: Bà Sri N kêu 2.500.000 đồng, chị H đóng hụi sống 2.500.000 đồng. x 2 = 5.000.000 đồng

Lần 4: Bà Th Cây Hẹ kêu 2.000.000 đồng, chị đóng 3.000.000 đồng x 2 = 6.000.000 đồng

Lần 5: Bà Thạch Thị M úp hụi.

Tổng cộng, chị đóng 04 lần hụi sống cho bà Thạch Thị M với số tiền là 22.000.000 đồng, bà M có trả có trả cho chị 10.000.000 đồng. Nay, chị Thạch Thị H yêu cầu chị Thạch Thị M có nghĩa vụ hoàn trả cho chị tiền hụi sống là 12.000.000 đồng, chị không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn: Chị Thạch Thị M đã được Tòa án triệu tập, niêm yết hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Thạch Thị H có mặt, bị đơn chị Thạch Thị M vắng mặt không có lý do, nên Tòa án căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, chị Thạch Thị H vẫn giữ yêu cầu khởi kiện: yêu cầu chị Thạch Thị M có nghĩa vụ hoàn trả lại chi chị 04 lần đóng hụi sống với số tiền là 22.000.000 đồng, nhưng chị M có trả cho chị H 10.000.000 đồng, nên số tiền còn lại là 12.000.000 đồng. Chị Thạch Thị M có nhận được các thông báo thụ lý vụ án số 136/TB-TLVA, ngày 26/11/2021, thông báo 46 ngày 07/01/2022, của Tòa án về phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Sau đó, Tòa án có niêm yết công văn số 220/CV-TA, ngày 25/5/2022 thông báo cho chị Thạch Thị M về yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Thị H (có kèm theo đơn khởi kiện và danh sách hụi viên), Tòa án tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ cho chị Thạch Thị M, nhưng chị cố tình vắng mặt không có lý do.

Như vậy, chị M đã biết nội dung yêu cầu khởi kiện của chị H, không phản đối với yêu cầu khởi kiện đó và cố tình vắng mặt không hợp tác với Tòa án, nên Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị Thạch Thị H, buộc Thạch Thị M có nghĩa vụ hoàn trả cho chị H số tiền hụi số là 12.000.000 đồng.

Về án phí: Buộc chị Thạch Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 228, 273, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 117, 119, 429, khoản 2 Điều 468, 471 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Thị H

Buộc chị Thạch Thị M có nghĩa vụ trả số tiền hụi sống còn nợ cho chị Thạch Thị H là 12.000.000 đồng. Chị H không yêu cầu tính lãi.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về án phí:

Buộc chị Thạch Thị M phải nộp 600.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, chị Thạch Thị H không phải chịu án phí sơ thẩm nên được hoàn lại số tiền 150.000 đồng tại biên lai số 0002825 ngày 26/11/2021 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; riêng bị đơn vắng mặt được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai nơi cư trú để nhờ Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ