vanban.org

Bản án 97/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TP. Châu Đốc, tỉnh An Giang Tuyên án 21/09/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Mua Bán Nợ X.

Buộc ông Nguyễn Văn DG trả cho Công ty TNHH Mua Bán Nợ X số tiền 66.290.145 đồng gồm vốn 39.960.984 đồng, lãi 26.329.161 đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hàn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Công ty X - DG"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Mua Bán Nợ X.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ K

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 97/2022/DS-ST
Ngày: 21 - 9 - 2022
V/v tranh chấp hợp đồng
tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ K, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Thanh Hảo;

2. Ông Huỳnh Văn Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Trí – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố K, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố K tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố K xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 168/2022/TLST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2022/QĐXXST-DS ngày 16/8/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 107/2022/QĐST-DS ngày 05/9/2022 giữa:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH Mua Bán Nợ X;

Địa chỉ: phường Linh Tây, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang, chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Hữu Ý, sinh năm 1996, nơi cư trú: phường E, Quận C, thành phố Cần Thơ; có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn DG, sinh năm 1964, địa chỉ: Số 252x, phường N, thành phố K, tỉnh An Giang; vắng mặt lần 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Công ty TNHH Mua Bán Nợ X có ông Trần Hữu Ý đại diện trình bày:

Ngày 17/12/2018, ông DG có ký kết hợp đồng tín dụng số 20181226 - 0000883 với Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC (viết tắt là Công ty tài chính) vay số tiền 42.200.000 đồng; lãi suất 5%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận ông DG có trách nhiệm thanh toán số tiền 75.489.145 đồng gồm gốc và lãi; trả chậm liên tiếp trong vòng 24 tháng; 23 tháng đầu, trả mỗi tháng 3.058.272 đồng, tháng cuối cùng trả 5.148.889 đồng. Bắt đầu trả từ ngày 03/02/2019. Thực hiện hợp đồng, khách hàng đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và có thanh toán cho Công ty tài chính được 03 lần, tổng số tiền đã trả 9.199.000 đồng. Kể từ ngày 08/4/2019 đến nay, ông DG không thanh toán cho Công ty tài chính mặc dù đã được nhắc nhở nhiều lần. Ngày 29/03/2021, khoản nợ của ông DG đã được Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (nay là Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC) chuyển nhượng cho Công ty TNHH Công ty TNHH Mua Bán Nợ X theo Hợp đồng mua bán nợ số VPBFC-GALAXY-21-0003. Do ông DG trễ hạn thanh toán nên Công ty TNHH Mua Bán Nợ X khởi kiện yêu cầu ông DG trả toàn bộ nợ gốc và lãi tổng số tiền 66.290.145 đồng gồm nợ gốc số tiền 39.960.984 đồng, lãi số tiền 26.329.161 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tống đạt văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Tòa án tiến hành xác minh tại Khóm Vĩnh Tây 2, phường Núi Sam thành phố K, đại diện Ban khóm Vĩnh Tây 2 cho biết ông Nguyễn Văn DG, sinh năm 1964 và bà Mạc Thị Kim Phượng và các con có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số 252, tổ 2, đường Hoàng Đạo Cật, khóm Vĩnh Tây 2, phường Núi Sam, thành phố K nhưng không thường xuyên sinh sống tại đây mà sinh sống ở nơi mua bán tại Ban khóm Vĩnh Đông (khu thương mại Núi Sam). Việc vay nợ của ông DG thì Ban khóm không rõ. Ban khón Vĩnh Đông cho biết ông Nguyễn Văn DG có thuê chỗ bán cơm tại khu thương mại thuộc khóm Vĩnh Đông, phường Núi Sam; ông DG không có hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú ở khóm Vĩnh Đông. Tòa án tiến hành hòa giải giữa các đương sự nhưng không thành do bị đơn vắng mặt. Tại phiên tòa,

- Đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu cầu ông DG trả toàn bộ nợ gốc và lãi tổng số tiền 66.290.145 đồng gồm nợ gốc số tiền 39.960.984 đồng, lãi số tiền 26.329.161 đồng cho Công ty TNHH Mua Bán Nợ X.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48, Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt làn thứ hai, nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Về giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy rằng việc vay nợ của các bên trên cơ sở tự nguyện, có lập hợp đồng, phù hợp quy định pháp luật, trong thời gian thực hiện hợp đồng ông DG vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó Công ty TNHH Mua Bán Nợ X khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ là có căn cứ chấp nhận.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 365, Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc bị đơn có trách nhiệm trả số tiền 66.290.145 đồng gồm nợ gốc số tiền 39.960.984 đồng, lãi số tiền 26.329.161 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng dân sự với bị đơn là ông Nguyễn Văn DG có nơi cư trú tại thành phố K, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố K theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về xác lập hợp đồng vay tài sản:

Xét hợp đồng tín dụng số 20181226 – 0000883 ngày 15/12/2018 giữa ông DG với Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung của hợp đồng không trái quy định của pháp luật. Do đó, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng. [4] Về vốn và lãi vay: Căn cứ hợp đồng tín dụng số 20181226 – 0000883 ngày 15/12/2018; Bảng kế hoạch trả nợ và Lịch sử thanh toán thì Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC có cho ông DG vay số tiền 42.200.000 đồng; lãi suất 5%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận ông DG có trách nhiệm thanh toán số tiền 75.489.145 đồng gồm gốc và lãi; trả chậm liên tiếp trong vòng 24 tháng; 23 tháng đầu, trả mỗi tháng 3.058.272 đồng, tháng cuối cùng trả 5.148.889 đồng. Bắt đầu trả từ ngày 03/02/2019. Ông DG đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và có thanh toán cho Công ty tài chính được 03 lần, số tiền 9.199.000 đồng. Quá trình thực hiện Hợp đồng ông DG đã không thực hiện đúng thời hạn trả nợ đã ký kết là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay được quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự 2015. Khoản nợ của ông DG đã được Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (nay là Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC) chuyển nhượng cho Công ty TNHH Mua Bán Nợ X theo Hợp đồng mua bán nợ số VPBFC-GALAXY-21-0003 ngày 30/3/2021 là phù hợp với quy định tại Điều 365 và Điều 450 của Bộ luật dân sự 2015. Do đó Công ty TNHH Mua Bán Nợ X khởi kiện để yêu cầu ông DG trả tổng số tiền 66.290.145 đồng gồm nợ gốc số tiền 39.960.984 đồng, lãi số tiền 26.329.161 đồng là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 365 và Điều 450 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Buộc ông Nguyễn Văn DG trả cho Công ty TNHH Mua Bán Nợ X số tiền 66.290.145 đồng gồm nợ gốc số tiền 39.960.984 đồng, lãi số tiền 26.329.161 đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. [5] Về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo:

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn có nghĩa vụ trả nợ nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.315.000 (ba triệu, ba trăm, mười lăm nghìn) đồng.

- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 365 và Điều 450 Bộ luật dân sự năm 2015;

Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;

Điều 147, Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Mua Bán Nợ X.

Buộc ông Nguyễn Văn DG trả cho Công ty TNHH Mua Bán Nợ X số tiền 66.290.145 đồng gồm vốn 39.960.984 đồng, lãi 26.329.161 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Công ty TNHH Mua Bán Nợ X không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả số tiền 1.658.000 (một triệu, sáu trăm, năm mươi tám nghìn) đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0002329 ngày 12/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc cho Công ty TNHH Mua Bán Nợ X.

Ông Nguyễn Văn DG phải chịu 3.315.000 (ba triệu, ba trăm, mười lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của bị đơn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ