- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản — án dân sự — "Vụ án tranh trấp quyền sừ dụng đất"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu háng cáo của bà Nguyễn Thị T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 97/2022/DS-PT Ngày: 24-03-2022 “V/v tranh chấp dân sự- về quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Phạm Minh Tùng
Các Thẩm phán:
Ông Lê Khắc Thịnh
Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Loan - Thư T a án nhân dân t nh Đ ng Tháp
- Đ i di n Vi n Ki m sát nh n d n t nh Đồng Tháp: Ông Nguyễn Tấn Tài-Ki m sát viên tham gia phiên t a
Trong ngày 24/03/2022 tại trụ s T a án nhân dân t nh Đ ng Tháp t ử phúc thẩm công hai vụ án thụ l số: 95/2021/TLPT-DS ngày 01 tháng 6 năm 2021 về việc “Tranh chấp dân sự về quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 08/2021/DS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2021 của T a án nhân dân huyện T bị háng cáo
Theo Thông báo m lại phiên t a t ử phúc thẩm số: 38/TB-TA ngày 24-01-2022 và Quyết định hoãn phiên t a số: 87/2022/QĐ-PT ngày 23/02/2022.
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị T, sinh năm: 1955;
- Địa ch : Ấp 5, ã Đ, huyện T, t nh Đ ng Tháp
Bị đơn: Nguyễn Văn R, sinh năm: 1972;
Cùng địa ch : Ấp Mỹ Thị A, ã M, huyện T, t nh Đ ng Tháp
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Lê Văn V, sinh năm: 1954;
2. Lê Hoàng E, sinh năm: 1989;
3. Bùi Thị D, sinh năm: 1975;
4. Lê Minh K, sinh năm: 1983;
5. Trần Thị Ngọc L, sinh năm: 1984;
6. Nguyễn Thanh M, sinh năm: 1999;
7. Nguyễn Thanh H, sinh năm: 2003;
8. Nguyễn Văn N, sinh năm: 1969;
9. Nguyễn Văn D, sinh năm: 1990;
10. Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm: 1982;
Cùng địa ch : Ấp Mỹ Thị A, ã Mỹ An, huyện T, t nh Đ ng Tháp
11. Nguyễn Thị P, sinh năm: 1951;
Địa ch : Ấp Mỹ Phú A, ã Mỹ An, huyện T, t nh Đ ng Tháp
12 Nguyễn Thị T, sinh năm: 1959;
Địa ch : Ấp 2, ã Bình Tấn, huyện T, t nh Đ ng Tháp
13. Nguyễn Thị B S, sinh năm: 1962;
Địa ch : Ấp Mỹ Phú B, ã Mỹ An, huyện T, t nh Đ ng Tháp
14 Nguyễn Thị B, sinh năm: 1963;
Địa ch : Ấp L, ã Mỹ Lợi B, huyện C, t nh Tiền Giang
15 Nguyễn Thị T, sinh năm: 1969;
Địa ch : Ấp 2, ã Mỹ Đông, huyện T, t nh Đ ng Tháp
16. Ủy ban nhân dân huyện T;
Đại ch : Khóm 3, thị trấn Mỹ An, huyện T, Đ ng Tháp
(Bà Nguyễn Thị T, Bùi Minh D, Lê Minh Khoa, Trần Thị Ngọc Lan, Nguyễn Thanh Mịn và Nguyễn Thị Bé Sáu có mặt tại phiên tòa; các đương sự còn lại vắng mặt).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn Nguyễn Thị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:
Ngu n gốc đất hiện tại bà đang tranh chấp là thửa đất số 2705, tờ bản đ số 01 có D tích 1.007,9m2, đo đạc thực tế D tích 967,1 m2 là tài sản của cha mẹ hai m lúc sinh thời và cho vợ ch ng bà sử dụng ổn định từ năm 1982 đến nay
Khi nhà nước có chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cha bà tên Nguyễn Văn Ngà đại D hộ gia đình đứng tên quyền sử dụng đất
Đến năm 2005, mẹ bà tên Huỳnh Thị Đ qua đời do tuổi già tại địa phương Năm 2011 cha bà tên Nguyễn Văn N cũng qua đời do tuổi già thì em trai bà tên Nguyễn Văn R đã tự sang tên quyền sử dụng đất từ tên của cha sang tên Nguyễn Văn R, nhưng tất cả anh chị em trong gia đình đều hông ai biết
Trên phần đất cha mẹ cho bà sử dụng thì đến năm 1983, cha mẹ ruột bà cất cho vợ ch ng bà căn nhà tre lá trên đất của cha mẹ phía bờ sông (Kênh Nhất) sát với đầu ruộng lúa gia đình tại thửa đất số 2705, tờ bản đ số 01, có D tích 1.007,9m2, đất tọa lạc tại ấp Mỹ Thị A, ã Mỹ An, đất cha mẹ đứng tên giấy chứng nhận QSD đất Khuôn đất cha mẹ cho vợ ch ng bà và canh tác có chiều ngang hoảng 37,65m, chiều dài 26,8m, có tổng D tích hoảng là 1 007,9m2, vị trí như sau: hướng đông là lộ Kênh Nhất, hướng nam giáp đất Tám Chía, hướng bắc giáp đất ông S và hướng tây là đất ông R lên liếp
Trên D tích bà đang sinh sống từ năm 1982 đến nay thì căn nhà cha mẹ cất cho vợ ch ng bà đến năm 2000 bị hư hỏng, uống cấp nên chính quyền địa phương cấp cho gia đình bà căn nhà tình nghĩa cất trên huôn đất cha mẹ cho, vì ch ng bà là thương binh hiện đang hư ng chính sách chế độ của nhà nước Đến năm 2009, chính quyền địa phương tiếp tục sửa chữa nâng cấp căn nhà cho gia đình bà Đến năm 2017, địa phương tiếp tục hỗ trợ gia đình cất nhà iên cố như hiện nay hông ai tranh chấp, ngăn cản Đến năm 2014, thì bà và vợ ch ng Nguyễn Văn R thống nhất ranh giới uống trụ ranh iên cố là trụ đá, hiện c n nguyên vị trí
Năm 2014, bản thân bà đã lớn tuổi nên yêu cầu em trai là Nguyễn Văn R sang tên, tách bộ đất có vị trí nêu nhưng em trai là Nguyễn Văn R nói với bà hiện đất này ông đã đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Ông R thống nhất sang tên tách bộ D tích huôn đất trên cho gia đình bà, nên hai chị em đã yêu cầu địa chính hiện đến đo đạc, cắm ranh, hi đo đạc, uống ranh có mời hai người có đất giáp ranh tên chứng iến và cùng uống trụ i măng tại các ranh đất 04 hướng ế cận (hiện c n nguyên hiện trạng)
Sau đó, năm 2014, bà và ông R tiến hành làm các thủ tục h sơ sang tên tách bộ tại UBND ã Mỹ An theo quy định pháp luật Nhưng hi làm thủ tục thì hộ ông R có 01 thành viên là con trai ruột tên Nguyễn Văn Mịn (đã đủ 18 tuổi), đi làm ăn a hông có nhà nên hông tên được, vì vậy thủ tục sang tên tách bộ hông thực hiện được
Khi đó, ông R nói từ từ sẽ sang tên cho bà, nhưng đến năm 2019 Nguyễn Văn R không thực hiện sang tên tách bộ như lời hứa mà giao cho bà quản l giấy chứng nhận quyền sử dụng đất D tích tại thửa đất số 2705, tờ bản đ số 01, có D tích 1.007,9m2, đất tọa lạc tại ấp Mỹ Thị A, ã Mỹ An, đất do Nguyễn Văn R đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (có giấy chứng nhận QSD đất gửi èm) và giao cho bà hộ hẩu gia đình, chứng minh nhân dân của vợ ch ng ông R, bà D đ làm thủ tục sang tên cho bà nhưng sau đó ông R hông thực hiện
Trước hi nhà nước có chủ trương đổi giấy chứng nhận QSD đất mới cho người dân, đoàn cán bộ đo đạc ã Mỹ An đã đến đo đạc thực tế theo các trụ ranh mà bà và vợ ch ng ông R, bà D đã thống nhất, hiện nay trên bản đ đo đạc của ã Mỹ An đã th hiện đầy đủ D tích và tên của bà, vì vậy, hi ông R yêu cầu đổi giấy chứng nhận QSD đất tại thửa đất bà đang tranh chấp thì UBND ã Mỹ An đã dừng việc cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất mới cho ông R.
Nay bà T yêu cầu T a án giải quyết công nhận cho bà Nguyễn Thị T đứng tên quyền sử dụng đất tại thửa 2705, tờ bản đ số 01, D tích cấp giấy 1 007,9m2 ( D tích đo đạc thực tế 967,1m2) Đối với nhà của anh D, chị Đ bà T hông yêu cầu giải quyết
2. Ông Nguyễn Văn R, bà Bùi Thị D trình bày: Ngu n gốc đất do cha mẹ đ lại cho vợ ch ng ông sử dụng ổn định Nay bà T yêu cầu gia đình ông phải thực hiện việc sang tên quyền sử dụng đất từ tên Nguyễn Văn R cho bà tên Nguyễn Thị T tại thửa đất số 2705, tờ bản đ số 01, có D tích 1.007,9m2, đất tọa lạc ấp Mỹ Thị A, ã Mỹ An, huyện T, đất do ông Nguyễn Văn R hiện đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông bà hông đ ng Ông bà đ ng cho bà T một phần thửa đất 2705 theo sơ đ đo đạc thực tế có một phía tính từ mốc M9, chạy ra tới lộ đal ra tới mí sông
Một phía tính từ mốc M8 chạy ra tới lộ đal tới mí sông, cho D tích đất bao trùm 03 căn nhà hiện bà T đang sinh sống theo thực tế đo đạc hoảng 398,1m2.
Yêu cầu bà Nguyễn Thị T, Lê Văn Diễn, Lê Minh Khoa, Lê Hoàng Em phải dời hết các loại cây tr ng trên đất trả lại D tích đất cho ông hoảng 578m2 thuộc thửa 2705, tờ bản đ số 01, đất tọa lạc ấp Mỹ Thị A, ã Mỹ An, hiện ông đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ
Đối với, căn nhà của Nguyễn Văn D, ông hông yêu cầu T a án giải quyết mà sẽ h i iện riêng bằng một vụ iện hác
3. Anh Nguyễn Văn D, Nguyễn Ngọc Đ trình bày: Ngu n gốc đất anh dang của ông nội anh D là cụ Nguyễn Văn Ngà, đất ấp Mỹ Thị A, ã Mỹ An, sao này giao chủ quyền lại cho chú Nguyễn Văn R đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lúc ông nội anh D c n sống thì có thấy bà T cất nhà , c n việc có cho đất ai hay hông thì anh, chị hông biết
Trên đất thì vợ ch ng anh chị có tr ng 4 cây mít và mấy cây mai vàng, mấy bụi bông trang và cây vú sữa, c n Dừa thì bà T tr ng
Nay bà T và ông R ảy ra tranh chấp thì chúng tôi hông có iến hay yêu cầu gì, trên đất có nhà, cây của anh chị thì anh chị hông yêu cầu giải quyết
Nếu T a án giải quyết giao đất cho bà T, hay ông R thì ai cho anh chị thì , nếu không cho thì anh chị d nhà giao lại đất
4. Bà Nguyễn Thị P, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị Bé S, Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị T trình bày: Nguyên cha của các ông, bà là cụ Nguyễn Văn Ngà và cụ là Huỳnh Thị Đ sống chung với nhau có 08 người con 6 gái, 02 trai nhưng đã chết 1 người con trai.
Trước đây, cha mẹ sống có tạo lập tài sản chung nhưng các chị em gái thì cha mẹ hông cho bất cứ tài sản gì riêng, có Nguyễn Thị T là con gái thứ 4 thì cha mẹ có cho được 1 007,9m2 đất ao đ cải tạo cất nhà vì bà T nghèo hó hơn các chị em hác (thời đi m cha mẹ cho bà T đất thì có bàn bạc với chị em các bà thời gian cho vào hoảng năm 1982)
Các bà biết bà T nhận đất là phần ao đìa, bà T phải ch đất từ u ng đất ch vào đ nâng lên đ cất nhà Bà T cất nhà từ năm 1982 cho đến nay, chị em các bà hông ai tranh chấp gì nhưng nay Nguyễn Văn R nói ngang nói cha mẹ hông cho đất bà T là hông đúng và cũng hông yêu cầu gì trong vụ án
5. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:
Đình ch yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị T.
Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị T.
Chấp nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn R, bà Bùi Thị D.
Buộc hộ ông Nguyễn Văn R, Bùi Thị D giao cho bà Nguyễn Thị T D tích 575,1m2 thuộc một phần thửa 2705, tờ bản đ số 1, tọa lạc Mỹ Thị A, ã Mỹ An, huyện T được ác định như sau:
Chiều ngang giáp Kênh nhất 18,05m (MB’- R5); Chiều ngang mặt tiền giáp lộ đal là 15,83m (M2’- R4), ngang hậu giáp đất c n lại của ông R thửa 2706 là 16,23m ( R10 – R3) (trong D tích chiều ngang có 2m nhà anh D đang sử dụng); Chiều dài (hướng bắc) được tính từ Kênh Nhất đến giáp đất c n lại của ông R thửa 2706 là 33,72m (có 9,20m lộ và m ênh) Chiều dài (hướng Nam) được tính từ Kênh Nhất đến giáp đất c n lại của ông R thửa 2706 là 33,59m ( có 8,64m lộ và m ênh)
+ Mốc gửi của các đi m như sau:
- Đi m M2’: Mốc gửi 1 là từ M2’ đến trụ đá M1 là 2,59 Mốc gửi 2 là từ M2’ đến MH (góc nhà bên trái nhà sửa e của bên hộ bà T) là 1,27m.
- Đi m R10: Mốc gửi 1 là từ R10 đến góc nhà trước bên phải nhà của ông R là 4,86m Mốc gửi 2 là từ R10 đến góc nhà sau bên phải nhà của ông R là 12,86m.
- Đi m R4: Mốc gửi 1 là từ R4 đến MJ (góc nhà trước bên phải nhà của bà T là 2,14m Mốc gửi 2 là từ R4 đến cột Đ giáp với đất ông Út là 10 04m
- Đi m R3: Mốc gửi 1 là từ R3 đến trụ đá M5 là 9,16m Mốc gửi 2 là từ R3 đến góc mộ bên trái cái mộ đầu tiên là 7,28m
Có Mảnh trích đo địa chính số 02 – 2020 ngày 12/5/2020 và phụ lục bổ sung mảnh trích đo địa chính số 02-2020 ( trích đo hiện trạng thửa đất tranh chấp quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị T) của Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ và đo đạc Bảo Long ngày 29/3/2021 kèm theo.
Buộc hộ bà Nguyễn Thị T giao lại cho ông Nguyễn Văn R, Bùi Thị D D tích 392m2 tại một phần thửa 2705, tờ bản đ số 01 và 12 cây dừa
Trong D tích đất của bà T và ông R được sử dụng có nhà và cây tr ng của anh D, chị Đ, các bên thống nhất hông tranh chấp
Bà Nguyễn Thị T và hộ Nguyễn Văn R được đến Cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục đăng , điều ch nh quyền sử dụng đất
Ông Nguyễn Văn R, Bùi Thị D được sử dụng 12 cây dừa và có trách nhiệm trả cho bà T số tiền 9 600 000đ ( Chín triệu sáu trăm ngàn đ ng)
Ngoài ra, bản án c n tuyên về án phí, các chi phí tố tụng hác và tuyên về thời hạn háng cáo
6. Sau hi t ử sơ thẩm tuyên bà Nguyễn Thị T có háng cáo yêu cầu công nhận thửa 2705, tờ bản đ số 01 toạ lạc ấp Mỹ Thị A, ã Mỹ An, huyện T, t nh Đ ng Tháp cho bà T được toàn quyền sử dụng
7. Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu h i iện; giữ nguyên nội dung kháng cáo. Yêu cầu Hội đ ng t em t các tài liệu chứng cứ về ngu n gốc đất đ công nhận 2705, tờ bản đ số 01 toạ lạc ấp Mỹ Thị A, ã Mỹ An, huyện T, t nh Đ ng Tháp cho bà T được toàn quyền sử dụng
- Bị đơn hộ ông Nguyễn Văn R giữ nguyên yêu yêu cầu và trình bày của mình như cấp sơ thẩm đã tuyên
- Đại diện Viện Ki m sát nhân dân T nh phát bi u iến:
Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên t a phúc thẩm
Về nội dung: Đề nghị hội đ ng t ử không chấp nhận yêu cầu háng cáo của các đương sự Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 08/2021/DSST ngày 29-3-2021 của T a án nhân dân huyện T.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được ki m tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Căn cứ vào yêu cầu h i iện của nguyên đơn, và yêu cầu của bị đơn, người liên quan ác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là Tranh chấp dân sự- quyền sử dụng đất ” là phù hợp với quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự
Sau hi t ử sơ thẩm, bị đơn hông đ ng với quyết định của bản án sơ thẩm nên có kháng cáo. T a án T nh thụ l giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm phù hợp với quy định tại hoản 1 điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự
Về nội dung:
Ngu n gốc đất là của cụ Nguyễn Văn Ngà (chết năm 2011) và cụ Huỳnh Thị Đ (chết 2005) đ lại Năm 2004, cụ Ngà đã chuy n nhượng cho ông R được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến năm 2011 cụ Ngà chết chết thì ông Nguyễn Văn R vẫn đứng tên cho đến nay
Quá trình sử dụng đất thì vào năm 1982 cụ Ngà và cụ Đ có cho bà Nguyễn Thị T là con gái thứ tư cất một căn nhà loại nhà cây, lợp lá trên phần đất tọa lạc ấp Mỹ Thị A, ã Mỹ An, huyện T, t nh Đ ng Tháp Gia đình bà T đi làm ăn a nhưng nhà vẫn tại phần đất trên Năm 2009, được sự hổ trợ của chính quyền địa phương bà T sửa chữa lại căn nhà lợp tol, năm 2014 bà T yêu cầu ông R làm thủ tục tách thửa giao cho bà T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng, đến năm 2017 bà T tiếp tục được chính quyền địa phương hổ trợ ây dựng nhà iên cố, năm 2019 bà T yêu cầu ông R giao cho bà được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất D tích 1.007,9m2 thuộc thửa 2705, tờ bản đ số 01 nhưng hộ ông R hông đ ng nên ảy ra tranh chấp
D tích tranh chấp đo đạc thực tế tại thửa 2705 là 967,1m2 (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp là 1 007,9m2) hiện bà Nguyễn Thị T đang sử dụng có cất 03 căn nhà và tr ng 20 cây dừa, một phần có nhà của anh D đang sử dụng
X t thấy, thửa đất 2705 có ngu n gốc là của cụ Nguyễn Văn Ngà (chết năm 2011) và cụ Huỳnh Thị Đ (chết 2005) đ lại Khi cụ Ngà c n sống đã làm thủ tục sang tên cho ông Nguyễn Văn R đứng tên vào năm 2004 nhưng các anh em của bà T và ông R hông có iến hay tranh chấp Các con của cụ Ngà và cụ Đ g m: Nguyễn Thị Thứ, Nguyễn Thị Phấn, Nguyễn Thị B Sáu, Nguyễn Thị Bi, Nguyễn Thị Thu, Nguyễn Thị T hông ai hiếu nại về việc cụ Ngà chuy n nhượng đất cho ông Nguyễn Văn R và cũng hông có yêu cầu chia thừa ế đối với phần đất nêu trên do đó việc ác lập Quyền sử dụng đất cho ông R là phù hợp
X t trình bày của bà Nguyễn Thị T cùng các anh chị em của bà cho rằng phần đất tranh chấp bà T được cha mẹ cho năm 1982 nhưng hông có căn cứ nào đ chứng minh việc cho đất mà ch ác định là được cho trên đất từ năm 1982 Suốt quá trình sử dụng đất bà T cũng hông làm thủ tục ê hai quyền sử dụng đất hay yêu cầu cha, mẹ làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất đến hi cụ Ngà làm hợp đ ng chuy n qua ông R đứng tên cũng hông hiếu nại hay tranh chấp Do đó, hông có căn cứ ác định cha me đã cho phần đất tranh chấp cho bà Nguyễn Thị T.
Tuy nhiên, bà T đã ổn định, lâu dài trên một phần D tích đất và phía ông R cũng đ ng cho bà T D tích 575,1m2 và cấp sơ thẩm đã ghi nhận sự tự nguyện của ông R là phù hợp
Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đ ng t ử phúc thẩm xét thấy không có cơ s đ chấp nhận yêu cầu háng cáo của bà Nguyễn Thị T.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 08/2021/DS-ST ngày 29/3/2021 của T a án nhân dân huyện T.
Tuy nhiên, về số liệu D tích đất công nhận cho bà Nguyễn Thị T theo sơ đ thực tế là 575,9 m2 và D tích trả lại cho hộ ông R là 391,2m2 và cách tuyên án chưa rõ ràng nên cấp phúc thẩm điều ch nh lại cho phù hợp
Do không chấp nhận yêu cầu háng cáo của đương sự nên đương sự phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm Tuy nhiên bà Nguyễn Thị T là người cao tuổi nên được miễn tiền án phí phúc thẩm
Các phần c n lại của bản án sơ thẩm hông có háng cáo, háng nghị có hiệu lực pháp luật từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị
X t lời trình bày và đề nghị của đại D Viện i m sát t nh Đ ng Tháp là có căn cứ
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ hoản 3 điều 26, hoản 1 Điều 38; Điều 148, hoản 1 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 48 - Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí t a án;
1. Không chấp nhận yêu cầu háng cáo của bà Nguyễn Thị T.
2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 08/2021/DS-ST ngày 29/03/2021 của Tòa án nhân dân Huyện T;
Tuyên xử:
Đình ch một phần yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị T.
Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị T. .
Ghi nhận sự tự nguyện của hộ ông Nguyễn Văn R, bà Bùi Thị D.
Buộc hộ ông Nguyễn Văn R, Bùi Thị D giao cho bà Nguyễn Thị T D tích 575,9 m2 tại một phần thửa 2705, tờ bản đ số 1, tọa lạc Mỹ Thị A, ã Mỹ An, huyện T có vị trí từ mốc MA, MG, M1, M11, M9, M6, M8, M3, MC, MB về MA
Kèm theo trích đo địa chính số 02-2020 ngày 12/5/2020 và phụ lục bổ sung mảnh trích đo địa chính số 02-2020 (trích đo hiện trạng thửa đất tranh chấp quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị T) của Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ và đo đạc Bảo Long ngày 29/3/2021).
Buộc hộ bà Nguyễn Thị T giao lại cho ông Nguyễn Văn R, Bùi Thị D D tích 391,2 m2 tại một phần thửa 2705, tờ bản đ số 01 theo các mốc MC, M3, M8, M6, M5, ME, MD về MC và 12 cây dừa
Trong D tích đất của bà T và ông R được sử dụng có nhà và cây tr ng của anh D, chị Đ, các bên thống nhất hông tranh chấp
Các đương sự có trách đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đ ê hai, đăng
quyền sử dụng đất đối với D tích đất được sử dụng theo quy định của pháp luật.
Ông Nguyễn Văn R, Bùi Thị D được sử dụng 12 cây dừa và có trách nhiệm trả cho bà T số tiền 9 600 000đ ( Chín triệu sáu trăm ngàn đ ng)
3. Về án phí sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị T được miễn án phí dân sự sơ thẩm do thuộcD người cao tuổi.
Ông Nguyễn Văn R, Bùi Thị D phải chịu 480 000đ án phí dân sự sơ thẩm
4. Về chi phí hác: Bà T phải chịu chi phí em t thẩm định là 3 143 000đ (đã thanh l hợp đ ng ong)
- Về án phí phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị T được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Các phần c n lại của bản án sơ thẩm hông có háng cáo, háng nghị có hiệu lực pháp luật từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án
| Nơi nhận: - Ph ng GĐ-KT TAND T nh; - VKSND T nh; - TAND H. T; - Chi cục THADS H. T; - Đương sự; - Lưu: VT, HSVA, TDS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Tùng |