- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản K1 Điều 171 - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Liên Quốc Thắng phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 97/2021/HS-ST Ngày 22-11-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Tân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Tuấn Kiệt
2. Bà Lâm Thị Nguyệt Hồ
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Lê Hồng Quân và ông Mai Chí Nguyện - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 103/2021/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2021/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Liên Quốc T (tên gọi khác: Không); sinh 2000, tại Bạc Liêu.
Nơi cư trú: Số 4/10, khóm A, phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Liên Quốc T1 (đã chết) và bà Trần Thị C, sinh năm 1981;
Tiền án: 01 lần: Ngày 03/6/2020, Tòa án nhân dân thành phố B xử phạt 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/12/2020, do bị kết án về tội ít nghiêm trọng khi từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nên được coi là không có án tích. Ngày 28/7/2020, Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/12/2020, chưa được xóa án tích.
Tiền sự 02 lần: Ngày 25/12/2019, Công an thành phố B quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chưa chấp hành). Ngày 15/6/2020, Công an thành phố B quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chưa chấp hành).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/6/2021 đến ngày 24/6/2021, chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B đến nay. (Có mặt)
- Bị hại: Chị Hồ Tuyết S, sinh năm 1979. Địa chỉ: Số 5/2B, Khóm 4, phường 5, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do trước đó cùng chơi game bắn cá chung nên Liên Quốc T quen biết với N (không rõ nhân thân lai lịch). Vào khoảng 10 giờ ngày 15/6/2021, sau khi uống cà phê xong thì T rủ N đi tìm tài sản của người khác sơ hở để trộm cắp bán lấy tiền chơi game thì N đồng ý rồi điều khiển xe mô tô Air Blade màu đỏ đen không rõ biển kiểm soát chở T đến các tuyến đường trong khu dân cư phường 5, thành phố B. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến nhà cho thuê Duy Hoàng thuộc khóm 4, phường 5, thành phố B, nhìn thấy phòng trọ số 01 đang mở cửa và không có cổng rào nên T kêu N dừng xe lại chờ sẳn bên ngoài. Còn T đi bộ vào bên trong phòng trọ nhìn thấy chị Hồ Tuyết S đang nằm xem điện thoại nên T liền dùng tay giật lấy điện thoại di động nhãn hiệu Samsung loại Galaxy A20 trên tay chị S rồi nhanh chống chạy ra xe của N đang chờ sẳn chạy thoát về đến tiệm game bắn cá 9669 trên đường Cao Văn Lầu thuộc khóm 2, phường 5, thành phố B để chơi game. Điện thoại di động lấy được do T cất giữ, đến ngày 17/6/2021 lực lượng Công an tiến hành mời T làm việc, cùng ngày T tự nguyện giao nộp điện thoại đã chiếm đoạt cho Công an.
Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 49/KL-HĐĐGTS ngày 05/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Bạc Liêu, kết luận tính đến ngày 15/6/2021: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A20 có giá trị thành tiền còn lại là 2.340.000 đồng.
Bản Cáo trạng số: 100/CT-VKSTPBL ngày 12/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu truy tố Liên Quốc T về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Liên Quốc T phạm tội “Cướp giật tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
+ Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt Liên Quốc T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
+ Vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A20.
+ Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác nên không đặt ra xem xét.
+ Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, buộc bị cáo Liên Quốc T phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- Bị cáo Liên Quốc T thần khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Sau khi nghe Viện Kiểm sát trình bày luận tội, bị cáo không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Bị hại chị Hồ Tuyết S đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy, chị S đã có lời khai đầy đủ tại cơ quan điều tra, về trách nhiệm dân sự chị không yêu cầu gì, nên sự vắng mặt của chị S không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của Liên Quốc T tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm, cách thức chiếm đoạt tài sản; đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố và đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Do đó, đủ căn cứ chứng minh: Vì động cơ vụ lợi bất chính, khoảng 12 giờ 30 phút ngày 15/6/2021 tại khóm 4, phường 5, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, Liên Quốc T đã thực hiện hành vi giật lấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A20 của chị Hồ Tuyết S với giá trị là 2.340.000 đồng rồi nhanh chống tẩu thoát.
Hành vi cướp giật tài sản của người khác của bị cáo T là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội Liên Quốc T có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó hành vi của Liên Quốc T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017). Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Căn cứ vào tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần tuyên truyền giáo dục pháp luật, nêu cao tinh thần cảnh giác, chủ động phòng ngừa tội phạm trong quần chúng nhân dân.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Do bị cáo T đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 51/2020/HS-ST, ngày 28/7/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu , đã chấp hành xong nhưng chưa được xóa án tích, mà lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo đã tự nguyện trả lại tài sản chiếm đoạt cho bị hại và bị hại không yêu cầu gì khác, do đó Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo T đã tự nguyện trả lại tài sản chiếm đoạt cho bị hại và bị hại không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Đối với người tên N do không rõ nhân thân, lai lịch nên giao Cơ điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T, Công an thành phố Bạc Liêu ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Công an thành phố Bạc Liêu, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Bạc Liêu về tội danh, hình phạt và các nội dung khác đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Liên Quốc Thắng phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Liên Quốc T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo bị giữ, tạm giam là ngày 18/6/2021.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Buộc bị cáo Liên Quốc T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nôi nhaän: - TAND tænh Baïc Lieâu; - Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu; - VKSND TP Baïc Lieâu; - Nhaø taïm giöõ Công an TP Baïc Lieâu; - Coâng an TP Baïc Lieâu; - Chi cuïc Thi haønh aùn dân sự Tp Baïc Lieâu; Trầ n Minh Tân - Bò caùo; - Bị hại; - Löu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Tân |