- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Mạnh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 97/2021/HS-ST Ngày: 29-6-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
- Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Qui
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thanh Hòa
2. Ông Cầm Văn Nam
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thuận – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Ka Ly - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 29 tháng 6 năm 2021, tại Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 99/2021/HSST ngày 03 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 06 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Mạnh H; tên gọi khác: không; sinh năm: 1974; tại: N; nơi ĐKNKTT và nơi cư trú: Thôn Đ, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm vườn; trình độ văn hóa: Lớp 07/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Huy K, sinh năm 1947 (đã chết) và bà Hà Thị H, sinh năm 1946, nơi cư trú: Thôn 3, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; vợ: Trần Thị H, sinh năm 1978, có 04 con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2020, hiện đang cư trú: Thôn Đ, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
Tiền án, Tiền sự: không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt)
- Bị hại: Chị Lê Thị Hồng Nh, sinh năm 1998; nơi cư trú: đường B, Phường 1, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. (có đơn xin vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Anh Nguyễn Hồng Ch, sinh năm 1982; nơi cư trú: Tổ A, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. (có đơn xin vắng mặt).
2/ Anh Vũ Quốc Tr, sinh năm 1991; nơi cư trú: đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. (có đơn xin vắng mặt).
Người làm chứng: Chị Trần Thị V, sinh năm 1971; nơi cư trú: đường T, phường L, thành phố BH, tỉnh Lâm Đồng. (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ sáng ngày 12/01/2021, Trần Mạnh H đi xe mô tô đến nhà ông Lê Hải Th để nhờ ông Th xin việc làm giúp. Khi đến nhà ông Th thì H thấy cổng và cửa nhà không khóa nên H dừng xe mô tô ở ngoài đường rồi đi vào nhà. Khi đi ngang qua phòng ngủ thứ hai phía trong nhà ông Th thì H thấy con gái ông Th là chị Lê Thị Hồng Nh đang ngủ trên giường, cạnh chỗ chị Nh ngủ có để 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu trắng, dung lượng 256GB, có phần ốp lưng làm bằng nhựa trong suốt đang cắm sạc nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Thực hiện ý định, H đi lại vị trí để điện thoại, rút dây sạc ra và lấy chiếc điện thoại trên bỏ trong túi quần rồi điều khiển xe về vườn của H ở đường Trần Hưng Đạo, phường Lộc Sơn, Tp. Bảo Lộc. Khi xuống làm vườn thì H suy nghĩ về việc đang nợ tiền nên sẽ bán chiếc điện thoại vừa trộm cắp được để lấy tiền trả nợ. Thực hiện ý định, H đi đến tiệm điện thoại của anh Nguyễn Hồng Ch để mở khóa chiếc điện thoại. H nói với anh Ch là “nhà có mấy đứa cháu nó nghịch, quên mật khẩu, anh mở giúp cho em”. Anh Ch nghe vậy nên tin tưởng và mở khóa chiếc điện thoại nói trên cho H với giá là 100.000 đồng. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, ông Th hỏi H đang ở đâu thì H hẹn ông Th đến ngã ba Đại Bình để gặp. Khi ông Th đến điểm hẹn cùng với 01 cán bộ Công an (là bạn của ông Th) thì H tưởng bị ông Th phát hiện việc đã lấy trộm điện thoại và báo công an nên H bỏ đi.
Sau đó, H mang chiếc điện thoại nói trên đi đến cửa hàng cầm đồ V của anh Vũ Quốc Tr, cầm cố được số tiền 1.500.000 đồng rồi đón xe khách xuống xã Gia Kiệm, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Số tiền này, H đã dùng để tiêu xài cá nhân hết.
Đến chiều ngày 13/01/2021 H gọi điện cho chị Trần Thị V và nhờ chị V gọi điện cho ông Th nói về việc H đã lấy chiếc điện thoại của con gái ông Th và mang đi cầm cố. Đến ngày 15/01/2021, H đến Công an Phường 1 tường trình toàn bộ hành vi của mình.
Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 14/KL-HĐĐGTS ngày 20/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Bảo Lộc kết luận 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu trắng, dung lượng 256GB, có phần ốp lưng làm bằng nhựa trong suốt có giá trị là 19.000.000 đồng.
Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tạm giữ và trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 ProMax, màu trắng, dung lượng 256GB, có phần ốp lưng làm bằng nhựa cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Lê Thị Hồng Nh.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Lê Thị Hồng Nh sau khi nhận lại được tài sản không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự. Anh Vũ Quốc Tr đã nhận được số tiền 1.500.000 đồng từ bị cáo H nên không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự.
Tại bản cáo trạng số 99/CT-VKSBL ngày 24 tháng 05 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố Trần Mạnh H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Mạnh H thừa nhận toàn bộ nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo thừa nhận vào ngày 12/01/2021 bị cáo đã lén lút trộm cắp tài sản của chị Lê Thị Hồng Nh 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 ProMax, màu trắng, dung lượng 256GB, có phần ốp lưng làm bằng nhựa, giá trị tài sản là 19.000.000 đồng với hành vi cụ thể như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu là đúng, bị cáo không thắc mắc hay khiếu nại gì nội dung của bản cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự 2015, đề nghị xử phạt bị cáo H từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an thành phố Bảo Lộc; của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến thắc mắc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.
[2] Về nội dung vụ án: Vào ngày 12/01/2021 lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của chủ sở hữu tài sản trong quản lý tài sản, bị cáo H đã lén lút trộm cắp tài sản của chị Lê Thị Hồng Nh 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 ProMax, màu trắng, dung lượng 256GB, có phần ốp lưng làm bằng nhựa, theo kết luận định giá trong tố tụng hình sự số 14/KL-HĐĐGTS ngày 20/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Bảo Lộc, kết luận 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 ProMax, màu trắng, dung lượng 256GB có giá trị là 19.000.000 đồng (mười chín triệu đồng) để cầm cố lấy tiền tiêu xài là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm trái pháp luật đến quyền sở hữu tài sản của người khác, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Đối chiếu lời khai của bị cáo; lời khai của bị hại và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ khẳng định hành vi của bị cáo H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã bồi thường khắc phục hậu quả cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bị cáo đã ra đầu thú, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, vì vậy cần áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Tình tiết tăng nặng: không.
Xét tính chất hành vi do bị cáo H thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện bị cáo coi thường kỷ cương pháp luật, hành vi trên không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương; xét các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, cần thiết phải áp dụng cho bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo H phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, đã bồi thường cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, xét không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà có thể giao cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng có khả năng giáo dục cải tạo đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[4] Về vật chứng:
Quá trình điều tra cơ quan điều tra thu giữ và đã trả lại: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 ProMax, màu trắng, dung lượng 256GB, có phần ốp lưng làm bằng nhựa cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Lê Thị Hồng Nh là đúng quy định pháp luật.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại chị Lê Thị Hồng Nh và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Vũ Quốc Tr đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì về dân sự nên không xem xét.
[6] Đối với anh Nguyễn Hồng Ch và anh Vũ Quốc Tr, là người có hành vi mở khóa điện thoại và nhận cầm cố tài sản do H phạm tội mà có, tuy nhiên tại thời điểm đó anh Ch và anh Tr không biết được nguồn gốc tài sản là do H phạm tội mà có nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của anh Ch và anh Tr.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Mạnh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Mạnh H 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Trần Mạnh H cho Ủy ban nhân dân xã Lộc Đức, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì việc Thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về lệ phí, án phí tòa án. Buộc bị cáo Trần Mạnh H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKS tỉnh Lâm Đồng; - Sở tư pháp; - VKS nhân dân thành phố Bảo Lộc; - Công an thành phố Bảo Lộc; - Người tham gia tố tụng; - Chi cục T.H.A thành phố Bảo Lộc; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký và đóng dấu) Trần Thị Qui. |