- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Cảnh - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 97/2021/HS-ST Ngày 09-12-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tài.
Thẩm phán thành viên: Bà Nguyễn Thị Sang.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Mỹ.
Bà Trần Thị Đẹp.
Ông Nguyễn Văn Cương.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hiền – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2021, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên tòa sơ thẩm, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 114/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2021/HSST-QĐ ngày 26 tháng 11 năm 2021, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn C, sinh năm 1995 tại tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: công nhân, trình độ văn hóa (học vấn): lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh H và bà Kim Thị M; có 01 con; tiền án: không, tiền sự: không; nhân thân: không; ngày 20/10/2020 bị cáo ra đầu thú và được trả tự do; ngày 20/01/2021 bị bắt, tạm giam cho đến nay; có mặt.
- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Nguyễn Văn C: ông Nguyễn Chánh T là Luật sư của Văn phòng Luật sư T, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Bị hại: ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1981; nơi cư trú: ấp 1, xã A, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1972.
2. Bà Kim Thị M, sinh năm 1975 (chết ngày 18/9/2021).
Cùng nơi cư trú: ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
3. Ông Trần Văn H, sinh năm 1999; nơi thường trú: ấp H, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở: tổ 5, khu phố K, phường K, thị xã T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Đặng Quang A, sinh năm 2001; vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 2001; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 18/10/2020, Nguyễn Văn C cùng Nguyễn Văn H, Đặng Quang A, Trần Văn H, Lê Văn P và Võ Thị Thuý V tổ chức uống rượu, bia tại phòng trọ số 6 của H thuê thuộc nhà trọ Huỳnh Hữu P, khu phố K, phường K, thị xã T, Bình Dương. Đến khoảng 15 giờ 30 cùng ngày, P và V lấy xe mô tô đi về, Quang A cũng đi bộ ra đường phía trước dãy phòng trọ gặp bạn nói chuyện. Lúc này, Nguyễn Văn T (sinh năm 1981, nơi cư trú: Ấp 1, xã A, huyện H, tỉnh Đồng Tháp) điều khiển xe mô tô đi vào phòng trọ của T thuê thì bị Quang A và bạn đang đứng chắn đường đi vào dãy nhà trọ nên T nói “xê xe vô cho người ta đi, đường này không phải đường của mày”, Quang A nghe vậy nên nói bạn đi về. Sau đó, Quang A đi vào phòng trọ kể lại cho H, H, C nghe sự việc và hỏi mọi người có biết T là ai không nhưng không người nào quen biết. Quang A và C đứng dậy đi tìm T để nói chuyện. Khi đến phòng trọ phía trong cùng của dãy trọ thì Quang A và C thấy T đang ở đây nên bước vào hỏi T lý do nói nặng lời với Quang A, T trả lời “Anh có nói gì đâu, anh chỉ chạy ngang qua thôi, chắc nhầm người rồi”, Quang A xin lỗi T rồi nói C quay về phòng trọ. Khoảng 15 phút sau, T đi đến phòng trọ của H chửi và nói “mai mốt, em xác định kỹ ai rồi hãy nói”. Nghe T nói vậy nên Quang A đứng dậy bắt tay xin lỗi T, C cho rằng Tửng qua gây chuyện nên tức giận và nảy sinh ý định đánh Tửng cho bỏ tức. C lên gác phòng trọ lấy 01 dao tự chế bằng kim loại màu trắng dài 50cm giấu vào trong áo phía sau lưng đi xuống chạy theo T. Khi Tửng đang đi về phòng trọ được khoảng 10m thì C đuổi theo kịp T, C từ phía sau dùng chân phải đạp T 01 cái làm Tửng ngã chồm người về phía trước, C liền rút dao ra và cầm dao bằng tay phải chém 01 nhát hướng từ trên xuống trúng vào vùng cổ trái của T. Bị chém, T ngã xuống đất ở tư thế nằm ngửa, C tiếp tục cầm dao chém vào vùng đầu Cả liên tiếp nhiều nhát, T đưa tay phải lên đỡ nên bị C chém trúng vùng cổ tay phải và mặt sau cánh tay phải, Quang A nhìn thấy C chém T nên chạy đến ôm C can ra nhưng không được, C chém T chảy máu nhiều thì C dừng lại và bỏ đi khỏi hiện trường. T được gia đình đưa đến bệnh viện cấp cứu. Đến ngày 20/10/2020, C đến đến Công an phường K, thị xã T đầu thú và giao nộp hung khí gây án.
Tại Kết luận giám định Pháp y về thương tích số: 571 ngày 24 tháng 11 năm 2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Bình Dương kết luận tỷ lệ tổn thương do thương tích gây nên trên cơ thể của bị hại Nguyễn Văn T là 34% (ba mươi bốn phần trăm).
Cơ chế hình thành vết thương trên cơ thể bị hại T thể hiện như sau:
Vết thương cổ trái, chiều từ trên xuống chếch từ sau ra trước, hướng từ sau tới chếch từ phải sang trái, bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra.
Vết thương mặt sau 1/3 giữa cánh tay phải, chiều từ trên xuống chếch từ phải sang trái, hướng từ sau tới, bờ tương đối gọn, khả năng do vật sắc gây ra.
Vết thương mặt trước cổ tay phải đến bờ trong bàn tay phải, sẹo hình vòng cung, chiều từ dưới lên, hướng từ trái sang phải, bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra.
Vật chứng thu giữ trong vụ án: 01 (một) dao tự chế bằng kim loại màu trắng bạc dài 50cm, bản rộng 4,5cm, có cạnh sắc bén.
Về trách nhiệm dân sự: trong quá trình điều tra, bị cáo C đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại Tửng 15.000.000 đồng. Bị hại T làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại Cáo trạng số: 91/CT-VKSBD.P2 ngày 13/10/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Giết người” (chưa đạt) quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 và Điều 15 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội trong đó có nội dung: giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo; đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra nên có căn cứ xác định bị cáo không mâu thuẫn với bị hại nhưng bị cáo lại dùng chân đạp và dùng dao chém vào vùng cổ của bị hại từ phía sau, sau đó tiếp tục chém bị hại thêm 02 nhát trúng vào tay. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” với tính tiết định khung “Có tính chất côn đồ”, do bị hại không chết nên được áp dụng Điều 15 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đến Công an đầu thú; có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 15 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xét xử bị cáo mức hình phạt từ 10 năm tù đến 12 năm tù; về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy dao là công cụ bị cáo thực hiện tội phạm; về trách nhiệm dân sự: đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn C trình bày quan điểm bào chữa: không đồng ý với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát về tội danh cũng như mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo. Giữa bị cáo và bị hại không quen biết, không mâu thuẫn gì trước đó, tuy nhiên không hiểu lý do vì sao bị cáo dùng dao chém bị hại, thương tích trên vùng cổ không biết có phải là vùng trọng yếu hay không và vị trí thương tích có thể gây chết người không cao. Bị cáo không có mục đích giết chết bị hại, chỉ muốn đánh dằn mặt, hù dọa bị hại nên hành động không có tính quyết liệt, không mong muốn bị hại phải chết. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử bị cáo tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đại diện Viện Kiểm sát tranh luận bổ sung: hành vi bị cáo thực hiện phù hợp với tội danh mà Viện Kiểm sát truy tố, vị trí chém vào vùng cổ là vùng trọng yếu, dễ gây chết người nếu không cứu chữa kịp thời. Giữa bị cáo và bị hại không mâu thuẫn gì nhưng bị cáo dùng dao chém vào vùng cổ, tay của bị hại và chém nhiều lần mục đích muốn tước đoạt mạng sống của bị hại. Do đó, Viện Kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Giết người” là đúng quy định.
Bị cáo thống nhất lời bào chữa của người bào chữa và không tranh luận bổ sung.
Bị hại Tửng không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Về thủ tục tố tụng: các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, luật sư bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Văn H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; người làm chứng ông Đặng Quang A và ông Nguyễn Văn H vắng mặt không rõ lý do nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Do vậy, căn cứ theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn C khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đã truy tố đối với bị cáo. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 18/10/2020, tại nhà trọ Huỳnh Hữu Ph thuộc khu phố K, phường Kthị xã T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Văn C dùng chân đạp bị hại Nguyễn Văn T làm bị hại ngã chồm về phía trước. Lúc này trên tay phải của bị cáo C cầm dao (dao tự chế) lưỡi bằng kim loại dài 50cm, bản rộng 4,5cm chém bị hại theo hướng từ trên xuống dưới trúng vào vùng cổ bên trái bị hại T, bị cáo tiếp tục chém nhát thứ hai trúng vào 1/3 giữa cánh tay phải và nhát thứ ba trúng vào mặt trước cổ tay phải của bị hại T gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 34% (ba mươi bốn phần trăm).
Hành vi của bị cáo C dùng dao là hung khí nguy hiểm chém nhiều nhát vào vùng trọng yếu cơ thể của bị hại T gây thương tích nặng có thể dẫn đến chết đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người”; giữa bị cáo và bị hại không mâu thuẫn nhưng bị cáo dùng dao chém nhiều lần gây thương tích cho bị hại là thuộc tình tiết “Có tính chất côn đồ”; bị hại không bị thiệt hại về tính mạng là do được cứu chữa kịp thời nên tội phạm bị cáo thực hiện thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt. Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 và Điều 15 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, bị cáo biết được việc dùng dao (hung khí nguy hiểm) chém nhiều nhát vào người bị hại sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng của bị hại nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo để có hình phạt tương xứng mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đến Công an đầu thú; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa có thái độ thần khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tác động gia đình bồi thường cho bị hại 15.000.000 đồng; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong.
Về xử lý vật chứng: 01 dao tự chế bằng kim loại màu trắng bạc dài 50cm, bản rộng 4,5cm có cạnh sắc bén là công cụ bị cáo sử dụng phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về tội danh, mức hình phạt đề nghị đối với bị cáo và xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo là chưa phù hợp nên không được chấp nhận.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Giết người” chưa đạt.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 15 và 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 10 (mười) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/02/2021.
2. Xử lý vật chứng:
Áp dụng các Điều 47 và 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) dao tự chế bằng kim loại màu trắng bạc dài 50cm, bản rộng 4,5cm có cạnh sắc bén.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 15/10/2021 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao (Vụ GĐKT 1); - Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; - Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương; - Công an tỉnh Bình Dương; - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương; - Trại Tạm giam - Công an tỉnh Bình Dương; - Phòng Hồ sơ - Công an tỉnh Bình Dương; - Người tham gia tố tụng (5); - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Tổ Hành chính tư pháp (02); - Lưu: hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, LTH, 19. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tài |