vanban.org

Bản án 97/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 14/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Trần Thanh L (Nhóc) 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam

giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Tân Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Thanh L phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trần Thanh L (Nhóc) 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 97/2021/HS-ST

Ngày: 14/12/2021

HUYỆN TÂN CHÂU Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Quyên. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Xuân Cúc; 2. Ông Nguyễn Văn Thả. - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phú, Thư ký Tòa án nhân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Đức – Kiểm sát viên. Ngày 14 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 95/2021/TLHS-ST ngày 02 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2021/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo: Trần Thanh L(Nhóc), sinh năm 1993 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp Tân B, xã Tân H, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quốc Th (đã chết) và bà Đặng Tuyết L, sinh năm 1970; vợ tên Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1991; bị cáo chưa có con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28-9-2021 đến ngày 28-11-2021 - tại ngoại; có mặt tại phiên tòa. - Bị hại: Công ty Cổ phần Cao su Tân B; Địa chỉ: Ấp Tân Tr, xã Tân H, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Người đại diện hợp pháp: Ông Trương Văn C – Chức vụ: Tổng giám đốc, là người đại diện theo pháp luật. Người đại diện hợp pháp của ông Trương Văn C: Ông Dương Quốc L – Giám đốc Nông trường Cao su Tân H trực thuộc Công ty Cổ phần Cao su Tân B, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 1445/UQ-CSTB ngày 03-12- 2021), có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Quốc S, sinh năm 1986; địa chỉ: Ấp Tân B, xã Tân H, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 26-7-2021, Trần Thanh L điều khiển xe môtô mang theo 01 máy cưa (loại cưa cầm tay) chạy vào khu vực lô cao su T39, đội sản xuất số 1, Nông trường Cao su Tân H thuộc Công ty Cổ phần Cao su Tân B trên địa bàn Ấp Tân Tr, xã Tân H, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh để cưa trộm cây cao su mang về bán lấy tiền tiêu xài. Sau khi cưa hạ được 03 cây cao su đang khai thác mủ, L cắt ra thành nhiều đoạn ngắn để vận chuyển mang về, trong quá trình cưa trộm 03 cây cao su L còn làm gãy ngọn 01 cây cao su khác. Khoảng 19 giờ cùng ngày, L rủ Nguyễn Minh Y, sinh năm 1970 cùng điều khiển xe máy kéo biển số 70LA-9336 kéo theo rơ móc không biển số đến nơi L đã cưa trộm 03 cây cao su để phụ chất gỗ lên xe kéo về, Ý không biết L đã cưa trộm cây cao su của Nông trường, khi L và Y đang chất các khúc gỗ lên xe máy kéo thì bị lực lượng bảo vệ Nông trường Cao su Tân H phát hiện. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Châu, Trần Thanh L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. * Kết quả định giá tài sản: Tại bản Kết luận định giá số 41/KL-HĐĐG ngày 21-9-2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tân Châu kết luận: 03 cây cao su bị cưa trộm vào ngày 26-7-2021 có giá trị 4.788.660 đồng; 01 cây cao su bị gãy ngọn do cây khác ngã đè lên vào thời điểm ngày 26-7-2021 có giá trị 956.990 đồng. * Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: Tại Quyết định xử lý vật chứng số 77/QĐ ngày 25-10-2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Châu xử lý như sau: - Trả cho Công ty Cổ phần Cao su Tân B 03 (Ba) cây cao su đã bị cưa, cắt thành 94 (chín mươi bốn) đoạn có chiều dài từ 1m đến 1,2m, có đường kính từ 0,09m đến 0,57m. - Trả cho chủ sở hữu là ông Trần Quốc S, sinh năm 1986, ngụ: Ấp Tân B, xã Tân H, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh 01 (một) xe máy kéo biển số 70LA-9336. - Chuyển Công an huyện Tân Châu 01 (một) Rơ móc không biển số và 01 (một) xe môtô không biển số, số máy: VDGZS152FMH-VA 003433, số khung: RNDWOH3ND71G 03433 để xử lý theo quy định. - 01 máy cưa màu cam hiệu STIHL thu giữ của Trần Thanh L đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. * Kê biên tài sản: Trần Thanh L không có tài sản riêng nên Cơ quan điều tra không tiến hành kê biên. * Về trách nhiệm dân sự: Ông Dương Quốc L là người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo Trần Thanh L bồi thường thiệt hại số tiền 7.157.885 (bảy triệu một trăm năm mươi bảy nghìn tám trăm tám mươi lăm) đồng.

Bản cáo trạng số 97/CT-VKS ngày 26 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Trần Thanh L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thanh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”; căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Thanh L từ 06 (Sáu) đến 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (Mười hai) đến 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Thanh L. * Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: - 03 (Ba) cây cao su đã bị cưa, cắt thành 94 (chín mươi bốn) đoạn có chiều dài từ 1m đến 1,2m, có đường kính từ 0,09m đến 0,57m, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Châu đã trả lại cho bị hại Công ty Cổ phần Cao su Tân B là chủ sở hữu, nên không đặt ra giải quyết. - 01 (một) xe máy kéo biển số 70LA-9336, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Châu đã trả lại cho ông Trần Quốc S, sinh năm 1986, ngụ: Ấp Tân B, xã Tân H, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh là chủ sở hữu, nên không đặt ra giải quyết. - 01 (một) Rơ móc không biển số và 01 (một) xe môtô không biển số, số máy: VDGZS152FMH-VA 003433, số khung: RNDWOH3ND71G 03433, không có giấy chứng nhận đăng ký tiếp tục giao cho Công an huyện Tân Châu xác minh làm rõ và sẽ xử lý theo quy định pháp luật. - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 máy cưa màu cam hiệu STIHL. * Về kê biên tài sản: Bị cáo Trần Thanh L không có tài sản nên Cơ quan điều tra không tiến hành kê biên. * Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 589 Bộ luật Dân sự: Ghi nhận bị cáo Trần Thanh L tự nguyện đồng ý bồi thường thiệt hại số tiền 7.157.885 (bảy triệu một trăm năm mươi bảy nghìn tám trăm tám mươi lăm) đồng cho bị hại Công ty Cổ phần Cao su Tân B và ngày 10-12-2021 bị cáo Trần Thanh L đã tự nguyện nộp xong số tiền 7.157.885 đồng theo biên lai thu số 0001563 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh để khắc phục thiệt hại. Bị cáo Trần Thanh L thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố và không có ý kiến tranh luận và đồng ý bồi thường thiệt hại cho bị hại Công ty Cổ phần Cao su Tân B số tiền 7.157.885 (bảy triệu một trăm năm mươi bảy nghìn tám trăm tám mươi lăm) đồng.

Người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Dương Quốc L yêu cầu bị cáo Trần Thanh L bồi thường thiệt hại số tiền 7.157.885 đồng và về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Lời nói sau cùng: Bị cáo không trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 26-7- 2021, bị cáo Trần Thanh L điều khiển xe môtô mang theo máy cưa (loại cưa cầm tay) đi vào khu vực lô cao su T39, đội sản xuất số 1, Nông trường Cao su Tân H trực thuộc Công ty Cổ phần Cao su Tân B, trên địa bàn Ấp Tân Tr, xã Tân H, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh để cưa trộm 03 cây cao su đang khai thác mủ thành từng đoạn có chiều dài từ 1m đến 1,2m, có đường kính từ 0,09m đến 0,57m. Sau khi cưa xong, bị cáo L điện thoại nhờ anh Nguyễn Minh Y phụ giúp bốc vác mà không nói số gỗ này do cưa trộm mà có. Anh Nguyễn Minh Y đồng ý nên đến khoảng 19 giờ cùng ngày, bị cáo điều khiển xe máy kéo biển số 70LA-9336 kéo theo rơ móc không biển số (mượn của ông Trần Quốc S) đến nơi cưa trộm để cùng Nguyễn Minh Y chất gỗ lên xe kéo về thì bị bảo vệ Nông trường Cao su Tân H phát hiện bắt quả tang. Tổng trị giá tài sản bị cáo Trần Thanh L trộm cắp là 4.788.660 đồng. Hành vi của bị cáo Trần Thanh L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu truy tố đối với bị cáo Trần Thanh L và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. [3] Về tính chất vụ án: Bị cáo Trần Thanh L biết rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động chân chính nên hành vi phạm tội của bị cáo là trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác; gây mất trật tự, trị an xã hội tại địa phương nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình gây ra. [4] Khi quyết định hình phạt, cần xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. [4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Thanh L phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và ngày 10-12-2021 bị cáo đã nộp số tiền 7.157.885 đồng theo biên lai thu tiền số 0001563 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh để khắc phục thiệt hại, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. [5] Xét thấy, vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, bị cáo Trần Thanh L có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có thể tự cải tạo nên Hội đồng xét xử xét thấy, không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo mức án cải tạo không giam giữ và giao cho Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú cùng gia đình có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo và đồng thời cũng không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Do bị cáo là người lao động tự do không có thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng cho bị cáo. [6] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa cho thấy bị cáo Trần Thanh L không có tài sản riêng có giá trị, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Trần Thanh L. [7] Đối với anh Nguyễn Minh Y khi được bị cáo Trần Thanh L rủ đi phụ bốc cây gỗ cao su lên xe thì Y không biết số gỗ này do bị cáo L cưa trộm. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh không xử lý hình sự đối với anh Nguyễn Minh Y là đúng quy định pháp luật. [8] Trong quá trình bị cáo L cưa trộm 03 cây cao su có làm cây ngã đè gãy ngọn 01 cây cao su khác, do giá trị thiệt hại chưa đủ định lượng để xử lý về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý hình sự là đúng quy định pháp luật. [9] Về bồi thường thiệt hại: Bị hại Công ty Cổ phần Cao su Tân B yêu cầu bị cáo Trần Thanh L bồi thường thiệt hại số tiền 7.157.885 đồng theo Bảng chiết tính của Công ty Cổ phần Cao su Tân B (tại bút lục số 07) bao gồm thiệt hại về trữ lượng gỗ, trị giá 4.190.900 đồng và trữ lượng mủ cao su, trị giá 2.966.985 đồng. Xét thấy, trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Châu đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 77/QĐ ngày 25-10-2021, trả lại cho bị hại Công ty Cổ phần Cao su Tân B 03 (Ba) cây cao su đã bị cưa, cắt thành 94 (chín mươi bốn) đoạn có chiều dài từ 1m đến 1,2m, có đường kính từ 0,09m đến 0,57m, nên bị cáo Trần Thanh L còn phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho Công ty Cổ phần Cao su Tân B về trữ lượng mủ cao su theo Kết luận định giá của Hội đồng định giá (bút lục số 63,64,65,66) là 2.639.650 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo Trần Thanh L tự nguyện đồng ý bồi thường cho bị hại Công ty Cổ phần Cao su Tân B số tiền 7.157.885 đồng và ngày 10-12-2021 bị cáo L đã tự nguyện nộp xong số tiền 7.157.885 đồng theo biên lai thu số 0001563 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện

Tân Châu, tỉnh Tây Ninh để bồi thường thiệt hại cho Công ty Cổ phần Cao su Tân B, nên Hội đồng xét xử ghi nhận. [10] Về xử lý vật chứng: - 03 (Ba) cây cao su đã bị cưa, cắt thành 94 (chín mươi bốn) đoạn có chiều dài từ 1m đến 1,2m, có đường kính từ 0,09m đến 0,57m, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Châu đã trả lại cho bị hại Công ty Cổ phần Cao su Tân B là chủ sở hữu, nên không đặt ra giải quyết. - 01 (một) xe máy kéo biển số 70LA-9336, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Châu đã trả lại cho chủ sở hữu ông Trần Quốc S, sinh năm 1986, ngụ: Ấp Tân B, xã Tân H, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, là hợp pháp nên ghi nhận. - 01 (một) Rơ móc không biển số và 01 (một) xe môtô không biển số, số máy: VDGZS152FMH-VA 003433, số khung: RNDWOH3ND71G 03433, trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Châu đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 77/QĐ ngày 25-10-2021 chuyển giao cho Công an huyện Tân Châu xử lý theo quy định pháp luật. - 01 (một) máy cưa màu cam hiệu STIHL là vật chứng trong vụ án, bị cáo Trần Thanh L dùng vào việc thực hiện tội phạm, nên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước. [11] Về án phí: Bị cáo Trần Thanh L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo các Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Thanh L (Nhóc) 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Tân H, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh được giao giám sát, giáo dục bị cáo Trần Thanh L (Nhóc) nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo Trần Thanh L (Nhóc) cho Ủy ban nhân dân xã Tân H, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Trần Thanh L (Nhóc) có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Tân H, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Trần Thanh L (Nhóc). Trường hợp bị cáo Trần Thanh L (Nhóc) thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án Hình sự. Miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng cho bị cáo Trần Thanh L (Nhóc).

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: - 03 (Ba) cây cao su đã bị cưa, cắt thành 94 (chín mươi bốn) đoạn có chiều dài từ 1m đến 1,2m, có đường kính từ 0,09m đến 0,57m, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Châu đã trả lại cho bị hại Công ty Cổ phần Cao su Tân B là chủ sở hữu, nên không đặt ra giải quyết. - 01 (một) xe máy kéo biển số 70LA-9336, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Châu đã trả lại cho ông Trần Quốc S, sinh năm 1986, ngụ: Ấp Tân B, xã Tân H, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh là chủ sở hữu, nên không đặt ra giải quyết. - 01 (một) Rơ móc không biển số và 01 (một) xe môtô không biển số, số máy: VDGZS152FMH-VA 003433, số khung: RNDWOH3ND71G 03433, trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Châu đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 77/QĐ ngày 25-10-2021 chuyển giao cho Công an huyện Tân Châu xử lý theo quy định pháp luật. - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) máy cưa màu cam hiệu STIHL. (Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03-11-2021). 3. Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 589 Bộ luật Dân sự: Ghi nhận bị cáo Trần Thanh L tự nguyện đồng ý bồi thường thiệt hại số tiền 7.157.885 (bảy triệu một trăm năm mươi bảy nghìn tám trăm tám mươi lăm) đồng cho bị hại Công ty Cổ phần Cao su Tân B và đã tự nguyện nộp xong số tiền 7.157.885 (bảy triệu một trăm năm mươi bảy nghìn tám trăm tám mươi lăm) đồng theo biên lai thu số 0001563 ngày 10-12-2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh để bồi thường cho Công ty Cổ phần Cao su Tân B. 4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Thanh L (Nhóc) phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. 5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Thanh L (Nhóc), bị hại Công ty Cổ phần Cao su Tân B có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Quốc S vắng mặt có lý do có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành

án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ