vanban.org

Bản án 97/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình Tuyên án 10/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức D 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 26/8/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH PHỤ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2021/HS-ST
Ngày 10-11-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán-chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức - Thẩm phán Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Túy; Bà Tăng Thị Hiệu.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Vi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Vũ Công Huân- Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 93/2021/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2021/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2021 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Đức D; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam;

Sinh ngày 02/6/1975 tại xã Th, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình;

Nơi cư trú: thôn H, xã Th, huyện Q, tỉnh Thái Bình;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Nguyễn Đức N(đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Th1, sinh năm 1936; Vợ: Phạm Thị N1, sinh năm 1973; Có 03 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2016; Tiền sự: Không; Tiền án: Bản án số 171/HS-ST ngày 12/8/2016 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án số 04/2018/HS-ST ngày 17/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, (trong lần phạm tội này D trộm cắp tài sản trị giá dưới 02 triệu đồng nhưng thuộc trường hợp đã bị kết án về tội này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm). Bản án số 06/2019/HS-ST ngày 22/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, .

Nhân thân: Bản án số 01/HSST ngày 24/02/2000 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Cướp tài sản của công dân” theo Điều 151 BLHS 1999. Quyết định số 607/QĐ-UB ngày 26/6/2001 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Bình đưa vào cơ sở giáo dục, thời hạn 24 tháng do nhiều lần trộm cắp tài sản. Quyết định số 139/QĐ-UB ngày 08/01/2004 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Bình đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng do nhiều lần trộm cắp tài sản. Từ năm 2016 đến nay, được công nhận hộ cận nghèo của xã Th, huyện Quỳnh Phụ; Bị bắt tạm giam từ ngày 26/8/2021 đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình.

Bị hại: Ông Nguyễn Tất Đ, sinh năm 1956

Địa chỉ: Thôn B, xã Th, huyện Q, tỉnh Thái Bình

(Tại phiên tòa có mặt bị cáo, vắng mặt ông Đ)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ ngày 23/8/2021, bị cáo Nguyễn Đức D điều khiển xe đạp mini, màu sơn đen của vợ đến nhà ông Nguyễn Tất Đ ở thôn B, xã Th, huyện Q để tiêm chữa bệnh viêm khớp. Đến nơi, thấy cổng, cửa mở, D đi vào nhưng không thấy người ở nhà liền nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền chi tiêu. Thấy phòng khám không có tài sản gì, D đi sang phòng ngủ thấy ở cửa sổ có để 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung M20, màu xanh, có ốp lưng bằng nhựa màu đen đang cắm sạc pin, liền lấy chiếc điện thoại cho vào túi quần trước bên phải đang mặc rồi đạp xe đến cửa hàng điện thoại Th2 ở tổ 6, thị trấn C, huyện Q nói là điện thoại của D và bán chiếc điện thoại trên cho chủ cửa hàng là anh Đỗ Công Th2, sinh năm 1978, trú tại thôn B1, xã H1, huyện Q, tỉnh Thái Bình với giá 1.300.000 đồng. Chiếc sim điện thoại D vứt ở khu vực ngoài cửa quán rồi đạp xe về nhà và chi tiêu cá nhân hết số tiền trên. Ngày 24/8/2021, ông Đ có đơn trình báo gửi đến Cơ quan Công an đề nghị giải quyết.

Bản kết luận định giá tà i sả n số 47/KL-HĐĐGTS ngà y 24/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Quỳnh Phụ kế t luậ n: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung M20 màu xanh, đã qua sử dụng, có trị giá 1.950.000 đồng; 01 (một) ốp lưng điện thoại Samsung M20 bằng nhựa, màu đen có trị giá 100.000 đồng; 01 (một) sim điện thoại Viettell, số thuê bao 0974897998 có trị giá 50.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt (ngày 23/8/2021) là 2.100.000 đồng (hai triệu một trăm nghìn đồng).

Tại Bản cáo trạng số 103/CT-VKSQP ngày 25/10/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ đã truy tố bị cáo D về tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Đức D đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản là chiếc điện thoại di động của ông Đ vào ngày 23/8/2021 như đã nêu trong bản cáo trạng. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn, hối cải.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên tòa: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam. Về trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết. Bị cáo thuộc hộ cận ngèo, đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm được trở về với gia đình, hòa nhập cộng đồng xã hội, trở thành công dân có ích cho xã hội.

NhËn ®Þnh cña tßa ¸n:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát và còn được chứng minh bằng các tài liệu: Đơn trình báo của bị hại; Sơ đồ hiện trường; Biên bản xác định hiện trường; Biên bản ghi lời khai của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 23/8/2021, tại nhà ở của ông Nguyễn Tất Đ, sinh năm 1956, thuộc Thôn B, xã Th, huyện Q, tỉnh Thái Bình, bị cáo Nguyễn Đức D đã có hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung M20 màu xanh, đã qua sử dụng, 01 ốp lưng điện thoại bằng nhựa, màu đen và 01 sim điện thoại Viettell, số thuê bao 0974897998), trị giá 2.100.000 đồng (hai triệu một trăm nghìn đồng) của ông Nguyễn Tất Đ, mang bán lấy 1.300.000 đồng chi tiêu cá nhân hết. Bị cáo D có 03 tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, do vậy hành vi của bị cáo D đã phạm tội: “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

…………..

g) Tái phạm nguy hiểm.

…………..

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân nơi địa bàn xảy ra vụ án. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã từng bị xử phạt tù về hành vi trộm cắp tài sản, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì động cơ tư lợi, bị cáo coi thường pháp luật, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Vì vậy Hội đồng xét xử cần phải lên một mức án phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội cũng như việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tài sản trộm cắp có giá trị không lớn, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo D phạm tội trong trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung, vì vậy bị cáo D không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Ngoài ra bị cáo có nhân thân xấu, đây cũng là một trong những căn cứ quan trọng để Hội đồng xét xử cân nhắc khi lượng hình.

[5] Về quyết định hình phạt: Từ những phân tích nêu trên, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như mức án đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, tương xứng với vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và bảo đảm mục đích hình phạt nói chung.

-Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định, gia đình thuộc hộ cận ngèo, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: Chiếc điện thoại di động bị cáo trộm cắp đã đem bán cho anh Th2, sau đó anh Th2 đã bán cho 01 người phụ nữ không quen biết nên Cơ quan điều tra không thu giữ được. Đối với sim điện thoại Viettell D đã tháo vất đi khi bán điện thoại, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thấy. Quá trình điều tra, bị hại không có yêu cầu đề nghị gì về việc bồi thường dân sự, vì vậy về trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo, vì vậy miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

-Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Hình phạt:

- Áp dụng điểm g, khoản 2, Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức D 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 26/8/2021.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo D.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ