- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Thị C phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Giao bị cáo Hồ Thị C cho Ủy ban nhân dân xã D1, huyện D, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số 97/2021/HS-PT Ngày 28 - 5 - 2021 NHÂN DANH |
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hà.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Phấn và bà Nguyễn Thị Hải Minh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Thanh Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 69/2021/TLPT-HS ngày 10 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo Hồ Thị C bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 35/2020/HS-ST ngày 29 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân huyện Diễn C, tỉnh Nghệ An.
Bị cáo có kháng cáo: Hồ Thị C, sinh ngày 13 tháng 4 năm 1971 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm 7, xã D1, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông Hồ Văn L (đã mất) và bà Nguyễn Thị H; có chồng là Phạm Văn Đ và có 04 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20 tháng 9 năm 2020 đến ngày 29 tháng 9 năm 2020; có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Ông Cao Văn H, sinh năm 1962; địa chỉ: Xóm 12, xã D2, huyện D, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Văn N không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập đến tham gia phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ ngày 19 tháng 9 năm 2020, bị cáo Hồ Thị C đi xe máy từ huyện Q theo Quốc lộ 1A về nhà, khi đến địa phận xã D2, huyện D thì bị cáo phát hiện có một con trâu cái, màu đen không có người trông coi. Sau khi về nhà ăn cơm trưa, bị cáo đi xe máy đến chỗ phát hiện có trâu, đến cầm dây thừng dắt trâu đi cách chỗ cũ khoảng 01 km thì gọi điện thoại cho con trai là Phạm Văn N ra chợ chiều Y gặp. N đi đến chợ chiều Y gặp bị cáo C, được C chở đến chỗ con trâu và nói: “Có con trâu đánh số trên sừng, dấu đỏ trên hông, không có ai coi, mẹ nghĩ là trâu của xe đi buôn bị sổng, ta mà không lấy thì người khác họ cũng lấy”. Khi đến nơi, hai mẹ con thay nhau dắt con trâu trên đến nhà của bà Nguyễn Thị H2 (là mẹ đẻ của bị cáo C) ở Xóm 17, xã D3, huyện D, tỉnh Nghệ An để cất giấu. Ngày 20 tháng 9 năm 2020, bị cáo C đến Công an xã D2 đầu thú và giao nộp con trâu đã trộm cắp. Quá trình điều tra, xác định con trâu cái màu đen 08 năm tuổi là của ông Cao Văn H ở Xóm 11, xã D1, huyện D, tỉnh Nghệ An đang thả trong trang trại gần nhà, đã được giao trả và không yêu cầu gì thêm. Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định trị giá con trâu bị cáo C trộm cắp là 24.000.000 đồng.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 35/2020/HS-ST ngày 29 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Hồ Thị C phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hồ Thị C 05 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án được trừ thời gian giữ từ ngày 20 tháng 9 năm 2020 đến ngày 29 tháng 9 năm 2020. Ngoài ra, Bản án còn tuyên án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04 tháng 01 năm 2021, bị cáo Hồ Thị C có đơn kháng cáo xin Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt, cho hưởng án treo với lý do: Bị cáo không cố tình phạm tội, do hiểu biết pháp luật hạn chế, suy nghĩ là của rơi nên phạm tội, sau đó đã đến Công an đầu thú. Sau khi phạm tội, bị cáo đã khắc phục hậu quả, trả lại tài sản cho người bị hại và người bị hại có đơn xin bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo phạm tội lần đầu, từ trước đến nay, luôn chấp hành pháp luật, chính sách Nhà nước, chồng của bị cáo bị bệnh, bị cáo còn phải nuôi mẹ già trên 80 tuổi, con còn nhỏ nên việc chấp hành án sẽ ảnh hưởng lớn đến gia đình.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương để trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa xét thấy bị cáo Hồ Thị C có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định; đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Hồ Thị C, sửa bản án sơ thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hồ Thị C 05 tháng tù và cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Bị cáo Hồ Thị C không tranh luận gì với Đại diện Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hồ Thị C thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Bản án sơ thẩm đã xét xử. Ngày 19 tháng 9 năm 2020, bị cáo đã có hành vi trộm cắp tài sản là một con trâu cái màu đen của ông Cao Văn H có giá trị 24.000.000 đồng, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản, gây mất trật tự an ninh, an toàn xã hội. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo Hồ Thị C, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội, đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho người bị hại, được người bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt; bố mẹ của bị cáo là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, áp dụng để xử phạt bị cáo 05 tháng tù là mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Đối với kháng cáo xin được hưởng án treo, xét thấy, bị cáo nhận thức pháp luật hạn chế, phạm tội do nhất thời, cơ hội, hành vi phạm tội đơn giản, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của Chính quyền địa phương là cũng đủ nghiêm. Do đó, có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, cho bị cáo hưởng án treo.
[4] Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Hồ Thị C kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Hồ Thị C, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo hưởng án treo.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hồ Thị C 05 (Năm) tháng tù và cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Hồ Thị C cho Ủy ban nhân dân xã D1, huyện D, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Hồ Thị C cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Hồ Thị C không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Nghệ An; - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An; - TAND huyện Diễn Châu; - VKSND, CA huyện Diễn Châu; - Chi cục THADS huyện Diễn Châu; - Phòng PV06, CA tỉnh Nghệ An; - UBND xã D1; - Bị cáo Hồ Thị C; - Lưu Tòa Hình sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Hà |