vanban.org

Bản án 97/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Khánh L về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” với anh Nguyễn Minh H.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Khánh L được ly hôn với anh Nguyễn Minh H. Về con chung: Giao hai cháu Nguyễn Hoàng Phương L, sinh ngày: 14/7/2011 và cháu Nguyễn Hoàng Nhật M, sinh ngày: 13/8/2017 cho chị Nguyễn Thị Khánh L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, tạm thời anh Nguyễn Minh H khô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị L yêu cầu ly hôn với anh H vì mâu thuẫn gia đình, có con chung, không cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung không có"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Khánh L về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” với anh Nguyễn Minh H.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 02/12/2021
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi
con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Xuân Tuất.

Ông Đinh Ngọc Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Bình – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 334/2021/TLST-HNGĐ ngày 29/4/2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/11/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 128/2021/QĐST-HNGĐ ngày 25/11/2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Khánh L, sinh năm: 1989.

Địa chỉ: 7a/4B, khu 2, ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Đ.

Bị đơn: Anh Nguyễn Minh H, sinh năm: 1986.

Địa chỉ: 114, ấp L, xã H, huyện T, tỉnh Đ.

(chị L, anh H vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Khánh L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Minh H chung sống tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Đ và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2010. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do không hiểu nhau, bất đồng quan điểm sống, đã ly thân từ năm 2017 đến nay, hôn nhân không hạnh phúc nên chị yêu cầu được ly hôn với anh H.

Về con chung: có 02 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Phương L, sinh ngày: 14/7/2011 và cháu Nguyễn Hoàng Nhật M, sinh ngày: 13/8/2017. Ly hôn, chị yêu cầu được nuôi 02 con chung và yêu cầu anh H phải cấp dưỡng mỗi cháu là 1.000.000 đồng/tháng, nay chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

- Bị đơn anh Nguyễn Minh H trình bày:

Tòa án triệu tập nhưng anh H vắng mặt nên không có trình bày.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thủ tục hòa giải, thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định xét xử, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được Tòa án thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đơn khởi kiện xin ly hôn của chị L là có cơ sở chấp nhận nên đề nghị cho chị L được ly hôn với anh H. Về con chung, giao hai con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời anh H không phải cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung, nợ chung đương sự trình bày không có, nên đề nghị không đặt ra xem xét. Về án phí: Chị L phải nộp án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Chị Nguyễn Thị Khánh L nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Minh H, sinh năm: 1986, cư trú: 114, ấp L, xã H, huyện T, tỉnh Đ nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

Về sự vắng mặt của bị đơn:

Chị L có đơn xin xét xử vắng mặt; anh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng anh H vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về yêu cầu khởi kiện:

3.1 - Về quan hệ hôn nhân:

Chị L và anh H tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại UBND xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 60 vào năm 2010 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Theo các tài liệu có trong hồ sơ, chị L trình bày chị xin ly hôn với anh H vì chị nhận thấy mâu thuẫn không thể hàn gắn, hôn nhân không hạnh phúc và đã ly thân từ năm 2017. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập nhưng anh H vắng mặt không có lý do thể hiện anh H không có thiện chí hòa giải, hàn gắn, đoàn tụ. Từ những cơ sở trên, xét thấy mâu thuẫn giữa chị L và anh H là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị L yêu cầu ly hôn với anh H là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

3.2 - Về con chung: Có 02 chung là cháu Nguyễn Hoàng Phương L, sinh ngày: 14/7/2011 và cháu Nguyễn Hoàng Nhật M, sinh ngày: 13/8/2017, ly hôn chị L yêu cầu được nuôi hai con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng; đồng thời cháu Linh có nguyện vọng được sống cùng mẹ, chị L có công việc ổn định nên chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị L.

3.3 - Tài sản chung, nợ chung: Chị L trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 147, 220, 227, 228, 264 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010); Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Khánh L về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” với anh Nguyễn Minh H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Khánh L được ly hôn với anh Nguyễn Minh H.

2. Về con chung: Giao hai cháu Nguyễn Hoàng Phương L, sinh ngày: 14/7/2011 và cháu Nguyễn Hoàng Nhật M, sinh ngày: 13/8/2017 cho chị Nguyễn Thị Khánh L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, tạm thời anh Nguyễn Minh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Nguyễn Minh H có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết các đương sự được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Tài sản chung và nợ chung: Đương sự trình bày không có nên không xem xét.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Khánh L phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình, nhưng được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007505 ngày 23/4/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom. Chị Nguyễn Thị Khánh L đã nộp đủ án phí.

5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ