- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Kim C-Phạm Minh S"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trong vụ án ly hôn và được giải quyết như sau:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 97/2021/HNGĐ-ST Ngày 22 tháng 9 năm 2021 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Diệu
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Kịch
Ông Trần Hoàng Bảy
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách tham gia phiên tòa: Ông Dương Thanh Hậu-Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 9 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” thụ lý số 84/2021/TLST-HNGĐ, ngày 01 tháng 3 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 239/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2021, Thông báo dời thời gian mở phiên tòa do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 245/2021/QĐST-HNGĐ, ngày 06 tháng 9 năm 2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Kim C; địa chỉ: ấp S, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng
Bị đơn: Anh Phạm Minh S; địa chỉ: ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở hiện nay: ấp S, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Trong đơn khởi kiện ngày 22 tháng 02 năm 2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Trần Thị Kim C trình bày: Giữa nguyên đơn với bị đơn là anh Phạm Minh S kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện từ năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận kết hôn cấp ngày 30 tháng 7 năm 2012. Vợ chồng có 02 người con chung là Phạm Minh T sinh ngày 12/12/2008 và Phạm Minh A sinh ngày 07/11/2015. Quá trình chung sống thời gian gần đây do anh S không lo làm ăn, không quan tâm đến gia đình, vợ con, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã nên cuộc sống chung không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nay chị C yêu cầu ly hôn anh S; về con chung chị C yêu cầu được trực tiếp nuôi cả 02 cháu và không yêu cầu cấp dưỡng; về tài sản chung và nợ, chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Phạm Minh S trình bày: Anh S thừa nhận phần trình bày của chị C về thời điểm cưới nhau, con chung của hai người là đúng; anh S cho biết từ khi cưới nhau vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng thỉnh thoảng cũng có cự cãi nhau sau đó hòa hợp lại. Hiện nay anh S vẫn còn thương vợ con và muốn hàn gắn nên không đồng ý ly hôn; tuy nhiên nếu chị C kiên quyết và vợ chồng phải ly hôn thì anh S có yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung và không yêu cầu chị C cấp dưỡng; về tài sản chung và nợ, anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của Viện Kiểm sát: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nhận xét về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án nhìn chung đều thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn và áp dụng các Điều 81 và 82 của Luật Hôn nhân và gia đình giao con chung chưa thành niên cho chị C trực tiếp nuôi, ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng của chị C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
[1] Tại phiên tỏa, anh Phạm Minh S mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án, theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị C và anh S xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, chị C nhận thấy vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do anh S không lo làm ăn, vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau, làm cho cuộc sống chung không còn hạnh phúc, nên chị C yêu cầu ly hôn anh S. Đối với anh S thì không đồng ý ly hôn vì anh vẫn còn thương vợ con, anh muốn hàn gắn, đoàn tụ. Tòa án đã xác minh ở chính quyền địa phương để tìm hiểu nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng nhưng địa phương không nắm được. Hội đồng xét xử thấy rằng, quan hệ hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của hai bên, nay chị C kiên quyết yêu cầu ly hôn mặc dù đã được Tòa án tiến hành hòa giải đoàn tụ nhưng không thành. Xét thấy mục đích hôn nhân của anh chị không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị C.
Về con chung: Chị C và anh S có 02 người con chung chưa thành niên, chị C có yêu cầu được trực tiếp nuôi cả 02 cháu. Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã trực tiếp hỏi nguyện vọng của con chung chưa thành niên trên 07 tuổi là cháu Phạm Minh T thì cháu cho biết nguyện vọng muốn được ở với cả cha và mẹ, đối với cháu Phạm Minh A hiện đang còn quá nhỏ rất cần sự chăm sóc từ người mẹ, do đó để tạo điều kiện cho các cháu được sống gần gũi nhau, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cả 02 cháu T và A cho chị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành là phù hợp. Anh S không trực tiếp nuôi con vẫn có quyền và nghĩa vụ thăm nom con. Về vấn đề cấp dưỡng, trên cơ sở tự nguyện của chị C không yêu cầu cấp dưỡng, Hội đồng xét xử ghi nhận và không buộc anh S phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ: Chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh S không có yêu cầu phản tố, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về quyền kháng cáo của đương sự được thực hiện theo quy định tại các Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH :
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 228, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trong vụ án ly hôn và được giải quyết như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Kim C được ly hôn anh Phạm Minh S.
- Về con chung: Giao 02 cháu Phạm Minh T sinh ngày 12/12/2008 và Phạm Minh A sinh ngày 07/11/2015 cho chị Trần Thị Kim C để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các chảu đủ 18 tuổi; anh Phạm Minh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị C tự nguyện không yêu cầu được ghi nhận. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh S, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
2. Về án phí: Chị Trần Thị Kim C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng, được khấu trừ hết vào số tiền tạm ứng án phí chị C đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008868, ngày 01/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách-ST; - Chi cục THA dân sự huyện Kế Sách-ST; - Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng (để BC); - UBND xã N, huyện K-ST; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Diệu |