- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Quốc V - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Đặng Quốc V 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/3/2020.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 97/2020/HS-ST Ngày 08 - 7 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Minh Đang
Bà Nguyễn Thị Kính
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Quốc Thái – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 92/2020/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2020/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Đặng Quốc V; sinh năm 1990, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú (nơi đăng ký thường trú: 2/29A B, Phường 13, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 450B/3 D, Phường 1, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị S; chung sống như vợ chồng (không đăng ký kết hôn) với chị Châu Thị Thanh T và có 01 con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không có;
Nhân thân: Ngày 31/5/2011, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cướp giật tài sản”, đến ngày 31/5/2015 chấp hành xong thời gian thử thách.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/3/2020 đến nay (có mặt).
- Bị hại: Chị Trần Thị Mỹ H, sinh năm 1996; nơi cư trú (hộ khẩu thường trú: 127 Tổ 2, Ấp 6, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; chỗ ở: 7/21 T, Phường 4, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Hộ kinh doanh B; địa chỉ: 402 A, Phường 10, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh; người đại diện hợp pháp của chủ hộ: Anh Tạ Xuân V, sinh năm 1994 (Theo Hợp đồng ủy quyền lập ngày 20/6/2019, tại Phòng Công chứng số 7, Thành phố Hồ Chí Minh). (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 09/3/2020, Đặng Quốc V đi bộ từ nhà đến khu vực chợ R, Phường 2, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh để mua đồ dùng sinh hoạt. Khi đến trước nhà thuốc T (địa chỉ: 226 L, Phường 3, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh) thì V phát hiện xe gắn máy hiệu Yamaha Nouvo LX, biển số: 93G1-005.74 của chị Trần Thị Mỹ H dựng trước cửa, không rút chìa khóa xe. Thấy xe không có người trông coi nên V nảy sinh ý định chiếm đoạt xe để bán lấy tiền tiêu xài, lợi dụng lúc vắng người, V đã lén lút dắt xe ra ngoài đường rồi nổ máy xe, đem về nhà cất giấu. Đến khoảng 12 giờ ngày 10/3/2020, V điều khiển chiếc xe trên đến tiệm cầm đồ B (tại số 402 A, Phường 10, Quận 6), rồi cầm xe cho nhân viên của tiệm là chị Hoàng Thanh T với giá 3.000.000 đồng, sau đó V đã tiêu xài cá nhân hết số tiền này.
Chị Trần Thị Mỹ H khai: Chị là nhân viên bán thuốc tại Nhà thuốc T. Sáng ngày 09/3/2020, chị điều khiển xe Yamaha Nouvo LX, biển số: 93G1-005 đến nhà thuốc làm việc và đậu xe trước cửa. Khoảng 07 giờ 40 phút cùng ngày, chị được anh Tạ Vinh Q (là người làm chung với chị H) báo cho biết chiếc xe của chị H đã bị người khác lấy trộm. Sau khi xem lại hình ảnh camera tại nhà thuốc, chị H và anh Q đến Công an Phường 3, Quận 8 trình báo, đồng thời giao nộp 01 USB chứa hình ảnh camera ghi nhận hành vi chiếm đoạt xe của V. Qua truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 đã phát hiện và đưa Đặng Quốc V về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan điều tra, V đã thừa nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt xe của mình. Cơ quan điều tra tạm giữ của V 01 quần lửng bằng vải màu xám; 01 áo thun màu đen ngắn tay, không cổ, phía trước có ghi chữ OPPOSE FRIENDLY; 01 nón lưỡi trai màu đen, hiệu VERBANO.
Ngày 13/3/2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận xác định 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Nouvo LX, biển số: 93G1-005.74 có giá là 7.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam đối với Đặng Quốc V về tội “Trộm cắp tài sản”. Qua lời khai của V, Cơ quan điều tra đã liên hệ đến Hộ kinh doanh B để xác minh việc cầm cố xe và thu hồi vật chứng là xe gắn máy hiệu Yamaha Nouvo LX. Ngày 08/5/2020, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả xe trên cho chị Trần Thị Mỹ H, đồng thời chị H không có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.
Quá trình điều tra, người đại diện hợp pháp của Hộ kinh doanh B và chị Hoàng Thanh T là nhân viên của hộ kinh doanh xác nhận vào ngày 10/3/2020, chị T có nhận cầm cố xe gắn máy Yamaha Nouvo LX từ V, do chị T không biết xe là tài sản do V phạm tội mà có nên đồng ý cầm với giá 3.000.000 đồng. Khi được Cơ quan điều tra Công an Quận 8 liên hệ làm việc thì chị T và người quản lý hợp pháp của hộ kinh doanh đã tự nguyện giao nộp lại xe. Đồng thời, người đại diện Hộ kinh doanh B không yêu cầu bị cáo V hoàn trả số tiền cầm cố xe là 3.000.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 98/CT-VKS ngày 25/5/2020, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Đặng Quốc V về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa,
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đặng Quốc V về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng thu giữ, đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng tạm giữ của bị cáo gồm: 01 quần lửng; 01 áo thun và 01 nón lưỡi trai màu đen. Về trách nhiệm dân sự, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường đối với bị cáo nên không đề cập giải quyết.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 8, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định vào khoảng 07 giờ 40 phút, ngày 09/3/2020, tại trước nhà thuốc T (số 226 L, Phường 3, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh), bị cáo Đặng Quốc V có hành vi lén lút chiếm đoạt xe gắn máy hiệu Yamaha Nouvo LX, biển số: 93G1-005.74, trị giá 7.000.000 đồng của chị Trần Thị Mỹ H.
Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “Trộm cắp tài sản” như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Đặng Quốc V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Xét tính nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; đồng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.
Năm 2011, bị cáo bị Toà án kết án về tội “Cướp giật tài sản”, mặc dù không bị xem là án tích nhưng khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét để có mức hình phạt phù hợp với nhân thân của bị cáo.
Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có cơ sở, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho bị hại, thuộc trường hợp “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn”, vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
Xét thấy, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả xe gắn máy biển số: 93G1-005.74 cho bị hại, đồng thời bị hại không có ý kiến, yêu cầu gì liên quan đến việc tạm giữ, xử lý vật chứng nên không đề cập giải quyết; 01 USB hiệu Kingstone chứa dữ liệu hình ảnh bị cáo thực hiện hành vi phạm tội kèm theo hồ sơ vụ án, do chủ sở hữu không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
Đối với 01 quần lửng bằng vải màu xám; 01 áo thun màu đen ngắn tay; 01 nón lưỡi trai màu đen, là các vật chứng tạm giữ của bị cáo, đây là quần áo, vật dụng bị cáo sử dụng tại thời điểm phạm tội, phù hợp với hình ảnh trích xuất camera, xét không có giá trị sử dụng nên căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự, bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại; đồng thời người đại diện Hộ kinh doanh B không có yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền 3.000.000 đồng, là tiền cầm cố xe, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Đặng Quốc V 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/3/2020.
- Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 quần lửng bằng vải màu xám; 01 áo thun màu đen ngắn tay, không cổ, phía trước có ghi chữ OPPOSE FRIENDLY; 01 nón lưỡi trai màu đen, hiệu VERBANO.
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 59/PNK ngày 24/3/2020)
- Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Đặng Quốc V nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKS ND Quận 8; - VKS ND TP. HCM; - CQ ĐT CA Quận 8; - CQ THA HS CA Quận 8; - Nhà tạm giữ CA Quận 8; - Chi cục THA DS Quận 8; - Người tham gia tố tụng khác; - TA ND TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - PC53; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thanh |