vanban.org

Bản án 97/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Trịnh Ánh H về việc xin ly hôn ông Lê Văn D.

Về con chung: Ông bà có 03 người con chung tên Lê Thị T, sinh ngày 26/6/1991; Lê Văn Th, sinh ngày 26/02/1996; Lê Văn Đ, sinh ngày 11/4/2001, hiện 03 người con đã trưởng thành, không đặt ra trách nhiệm nuôi dưỡng. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Trịnh Ánh H về việc xin ly hôn ông Lê Văn D.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2020/HNGĐ-ST
Ngày 16 – 7 – 2020
Về việc xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu. Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Nguyễn Văn Chiến.

- Ông Huỳnh Hoàng Khởi.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Bích Như, là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 16 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 241/2020/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2020 về việc “xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 428/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

– Nguyên đơn: Bà Trịnh Ánh H, sinh năm: 1965 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

– Bị đơn: Ông Lê Văn D, sinh năm: 1966 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn ngày 06/5/2020 và tại phiên tòa, bà Trịnh Ánh H trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Lê Văn D xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 1990 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tắc Vân, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống vợ chồng thường xảy ra nhiều mâu thuẫn, ông D hay ghen tuông vô cớ, vợ chồng bất đồng về quan điểm, cuộc sống chung không còn hạnh phúc và ông bà đã ly thân từ năm 2019. Nay bà xác định tình cảm không còn nên bà yêu cầu ly hôn ông D.

Về con chung: Ông bà có 03 người con chung tên Lê Thị T, sinh ngày 26/6/1991; Lê Văn Th, sinh ngày 26/02/1996; Lê Văn Đ, sinh ngày 11/4/2001, hiện 03 cháu đã trưởng thành nên không đặt ra trách nhiệm nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Bà xác định tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà khai không nợ ai và không ai nợ lại ông bà.

- Đối với ông Lê Văn D, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần đến phiên tòa để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử vụ án nhưng ông D vẫn không có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về tố tụng: Ông Lê Văn D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và phiên tòa xét xử theo quy định vào các ngày 01/6/2020, ngày 15/6/2020, ngày 29/6/2020, ngày 16/7/2020 nhưng ông vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông D theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Bà Trịnh Ánh H và ông Lê Văn D chung sống vợ chồng vào năm 1990 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tắc Vân, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau vào năm 2005 nên hôn nhân hợp pháp và được pháp luật công nhận bảo vệ. Quá trình chung sống theo bà H trình bày thường xảy ra nhiều mâu thuẫn, ông D hay ghen tuông vô cớ, vợ chồng bất đồng về quan điểm, cuộc sống chung không còn hạnh phúc và ông bà đã ly thân từ năm 2019. Nay bà xác định tình cảm không còn nên bà yêu cầu ly hôn ông D. Đối với ông D không đến Tòa án theo giấy triệu tập, cũng không trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xét thấy: Bà H, ông D có phát sinh mâu thuẫn, bà H xác định không còn tình cảm với ông D và ông bà đã ly thân từ năm 2019, trong khi ông D cũng không có thiện chí hàn gắn vợ chồng, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H, cho bà được ly hôn ông D.

Về con chung: Ông bà có 03 người con chung tên Lê Thị T, sinh ngày 26/6/1991; Lê Văn Th, sinh ngày 26/02/1996; Lê Văn Đ, sinh ngày 11/4/2001, hiện 03 người con đã trưởng thành, không đặt ra trách nhiệm nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Bà H xác định tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét;

Về nợ chung: Bà H khai vợ, chồng không nợ ai và không ai nợ lại vợ, chồng nên không đặt ra xem xét.

Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Trịnh Ánh H về việc xin ly hôn ông Lê Văn D.

- Về con chung: Ông bà có 03 người con chung tên Lê Thị T, sinh ngày 26/6/1991; Lê Văn Th, sinh ngày 26/02/1996; Lê Văn Đ, sinh ngày 11/4/2001, hiện 03 người con đã trưởng thành, không đặt ra trách nhiệm nuôi dưỡng.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà H khai không có.

- Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình, bà H phải chịu 300.000đ. Ngày 11 tháng 5 năm 2020, bà H đã dự nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai số 0001785 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau nên được đối trừ chuyển thu sung công quỹ nhà nước.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ