- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| _______________ Bản án số: 97/2018/HSST Ngày: 03/10/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN- TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
- Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Bà Bùi Thị Kiều Anh
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Cầm Văn Tổ và bà Nguyễn Thị Hồng
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huế –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 10 năm 2018, tại Trụ sở tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 103/HSST ngày 14/9/2018; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2018/QĐXXST-HS ngày 19/9/2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T. Sinh ngày: 01/01/1983 tại huyện T1, tỉnh Nam Định; Nơi ĐKNKTT: Xóm 16, xã T2, huyện T1, tỉnh Nam Định.Tạm trú: A, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn D, sinh năm: 1953 và bà Trần Thị H, sinh năm: 1955 cùng cư trú tại xóm 16, xã T2, huyện T1, tỉnh Nam Định; Có vợ: Hà Thị R, sinh năm: 1992 cư trú tại bản x, xã xx, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; Bị cáo có 01 con sinh năm 2014;
Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 10/2010/HSST ngày 03/03/2010 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La bị xử phạt 24 tháng tù giam về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (đương nhiên xóa án tích).
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 8/6/2018, giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La cho đến nay; Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn Tr, sinh năm: 1980; Nơi ở: huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 08.6.2018 Nguyễn Văn T đem theo số tiền 100.000VNĐ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA NOVO, biển kiểm soát 26B1-578.80 (là xe của anh trai T tên là Nguyễn Văn Tr, cư trú tiểu khu 20, thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La) đi từ tiểu khu 32, xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La đến bản Mu Kít, xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La để mua ma túy về sử dụng cho bản R.
Đến bản Mu Kít, xã Cò Nòi, T gặp một người đàn ông (không quen biết) đang đứng ở lề đường. T đặt vấn đề hỏi mua 100.000VNĐ heroine và đưa tiền. Người đàn ông cầm tiền và lấy từ túi quần bên phải ra 01 gói được gói bằng mảnh politilen màu xanh bên trong chứa heroine đưa cho T. T cầm lấy và cất vào cốp xe rồi điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng, còn người đàn ông bán ma túy cho T đi đâu T không biết. Trên đường đi đến khu vực bản Mu Kít, xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La T bị tổ công tác Công an xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn phát hiện có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác yêu cầu có ma tuý thì tự giác giao nộp. T đã tự giác lấy từ trong cốp xe T đang điều khiển 01 gói được gói bằng mảnh nilon màu xanh bên trong chứa chất bột nén màu trắng nghi là heroine. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn T và niêm phong vật chứng nêu trên. Kiểm tra thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA loại xe NOVO, biển kiểm soát 26B1-57880, 01 điện thoại di động hiệu NOKIA 110I màu trắng đen.
Ngày 08.6.2018 Công an huyện Mai Sơn phối hợp cùng phòng kỹ thuật hình Sự công an tỉnh Sơn La cân tịnh, xác định 01 gói vật chứng khi bắt quả tang Nguyễn Văn T có khối lượng 0,167 gam trích rút toàn bộ làm mẫu giám định, ký hiệu M.
Ngày 14 .6.2018, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La ra bản kết luận giám định số 731KLMT, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu M là chất ma tuý; Loại chất heroine; Khối lượng chất ma tuý thu giữ là 0,167 gam”
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo. Tại phiên toà không phát sinh tình tiết mới.
Tại bản cáo trạng số: 81/CT-VKSMS 13/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T với nội dung: Truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Mai Sơn để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Văn T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Qua tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã phát biểu ý kiến, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử phạt đối với bị cáo như sau:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 14 tháng đến 16 tháng tù giam.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu huỷ: vỏ bao bì niêm phong tang vật ban đầu; mảnh nilon gói ma túy ban đầu.
Tạm giữ để đảm bảo thi hành án: 01 điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Văn T.
Trả lại cho anh Nguyễn Văn Tr: 01 xe máy mang nhãn hiệu YAMAHA NOVO, mầu sơn vàng – đen, mang biển kiểm soát 26B1-57880.
Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000VNĐ.
Bị cáo Nguyễn Văn T tự bào chữa: Nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố, và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiến nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 8.6.2018, Nguyễn Văn T đã mua 100.000VNĐ heroine để sử dụng cho bản R và bị tổ công tác Công an xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn phát hiện bắt quả tang thu giữ 0,167 gam heroine.
Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn T là hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn lập hồi 17 giờ 15 phút ngày 8/6/2018; biên bản mở niêm phong, cân tịnh, trích rút mẫu giám định của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn lập hồi 20 giờ 15 phút ngày 8/6/2018, kết luận giám định số 731 ngày 14/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, biên bản hỏi cung đối với Nguyễn Văn T trong giai đoạn điều tra; phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy đã có đầy đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Với việc Nguyễn Văn T tàng trữ 0,167 gam heroine nhằm mục đích sử dụng thì Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Văn T tại bản cáo trạng số: 81/CT-VKSMS ngày 13/9/2018 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Điều 249 BLHS quy định: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
c) Heroine, Cocaine, Methaphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
Xét thấy tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, làm tăng tệ nạn nghiện chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân R của bị cáo, xét thấy: Bị cáo Nguyễn Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bản R bị cáo có đủ năng lực nhận thức trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo đã phạm tội với lỗi cố ý. Bị cáo có 01 tiền án về tội cùng loại tuy đã được đương nhiên xóa án tích nhưng có thể thấy bị cáo có nhân R xấu. Quá trình điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sẽ được HĐXX xem xét áp dụng cho bị cáo.
Từ sự phân tích trên, căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân R của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc Tơng xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đủ giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội, từ đó mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa những hành vi Tơng tự sẽ và đang xảy ra.
Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo sống phụ thuộc vào gia đình, không có việc làm, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng, xử lý vật chứng: Khi bắt quả tang bị cáo cơ quan điều tra thu giữ 0,167 gam heroine trích rút toàn bộ làm mẫu giám định không hoàn trả mẫu vật sau giám định. Đối với vỏ bao bì niêm phong tang vật ban đầu và mảnh nilon gói ma túy ban đầu, xét thấy không phải là vật chứng và vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Văn T, xét thấy là tài sản hợp pháp của bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên cầm tạm giữ để đảm bảo thi hành án:
Đối với 01 xe máy mang nhãn hiệu YAMAHA NOVO, mầu sơn cang – đen, mang biển kiểm soát 26B1-57880. Xét thấy, là tài sản hợp pháp của anh Tr, việc bị cáo sử dụng chiếc xe đi mua ma túy anh Tr không biết, do đó cần trả lại chiếc xe trên cho anh Nguyễn Văn Tr.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000VNĐ.
Về nguồn gốc ma tú y: Bị cáo khai mua của một người đàn ông không quen biết ở khu vực bản Mu Kít, xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, việc mua bán ma túy không ai biết hay chứng kiến do đó không có cơ sở để điều tra xác minh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 14 (mười bốn) tháng tù giam, thời gian thụ hình tính từ ngày 8/6/2018.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu huỷ: vỏ bao bì niêm phong tang vật ban đầu; mảnh nilon gói ma túy ban đầu.
Tạm giữ để đảm bảo thi hành án: 01 điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Văn T.
Trả lại cho anh Nguyễn Văn Tr: 01 xe máy mang nhãn hiệu YAMAHA NOVO, mầu sơn vàng – đen; mang biển kiểm soát 26B1-57880.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000VNĐ.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - Toà án tỉnh Sơn La; - Sở T pháp tỉnh Sơn La; - Viện KSND Mai Sơn ; - Công an huyện Mai Sơn ; - Chi cục THADS Mai Sơn ; - THA H/S; - Bị cáo; - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Bùi Thị Kiều Anh |