vanban.org

Bản án 97/2018/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 19/11/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/11/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên b các bị cáo Trần Huy Tr, bị cáo Triệu Sa R phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

Áp dụng kho n 1 Điều 135 Bộ luật hình sự 1999, điểm s kho n 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 đ i với bị cáo Tr, bị cáo R. Bị cáo Tr bị áp dụng điểm h kho n 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự 2015; bị cáo R được áp dụng thêm c c Điều 17 Điều 58 của Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị c o Trần Huy …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần huy Tr. Cưỡng đoạt tài sản - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 135 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên b các bị cáo Trần Huy Tr, bị cáo Triệu Sa R phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật t tụng hình sự
N N N N N
N
M N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B n n s : 97/2018/HS-PT
Ngà : 19-11-2018

NHÂN DANH

N

N

N

V

N M

TÒA ÁN NHÂN DÂN T N

M NG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Kim Đồng

Các Thẩm phán:

Ông Huỳnh Chậu Thạch

Ông Huỳnh Văn Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Qu c Hu , Thư ký Tòa n nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Du, Kiểm sát viên.

Ngà 19 th ng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý s : 125/2018/TLPT-HS ngày 26-10-2018 đ i với các bị cáo Trần Huy Tr, Triệu Sa R; do có kháng cáo của các bị cáo đ i với B n án hình sự sơ thẩm s : 68/2018/HS-ST ngày 20-9-2018 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

Bị cáo kháng cáo:

1. Họ và tên: Trần Huy Tr, sinh năm 1990, tại Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn TN, xã ĐP, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh, qu c tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Trần Huy Th, sinh năm 1960; con bà Trần Thị C, sinh năm 1964. Vợ Huỳnh Thị H, sinh năm 1990; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2014; hiện gia đình bị c o đang sinh s ng tại thôn TN, xã ĐP, huyện Lâm Hà, Lâm Đồng.

Tiền sự: Không; Tiền án: Tại B n án s : 109/2014/HSST ngày 28-11-2014 bị Tòa n nhân dân hu ện Đức Trọng, Lâm Đồng, ử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24-12-2017, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Lâm Hà. Có mặt.

2. Họ và tên: Triệu Sa R, sinh năm 1990, tại tỉnh Sóc Trăng; nơi ĐKHKTT: Ấp CL, phường 2, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Thôn TN, xã ĐP, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Khơ me; qu c tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; con ông Triệu V, sinh năm 1951, con bà Thạch Thị Ư, sinh năm 1950; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại b n án s : 126/2010/HSST ngày 08-9-2010 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành Ph Hồ Chí Minh xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài s n”. Bị cáo bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17-01-2018 hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Lâm Hà. Có mặt

Người bào chữa cho các bị cáo: Luật sư Lê Cao T; Văn phòng Luật sư BT; Đoàn Luật sư tỉnh Lâm Đồng. Có mặt

Trong vụ án này bị hại anh S, chị D, anh N, chị M, anh T (T1) anh K, chị Y, chị H; người liên quan chị C, anh K không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị

N I DUNG VỤ ÁN:

Theo c c tài liệu có trong hồ sơ vụ n và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ n được tóm tắt như sau:

Ngày 24-12-2017 c c anh Thào Văn S, chị Hoàng Thế D, anh Vàng A N, chị Đào Thị M, anh Vàng A T, anh Thào Văn K, chị Lý Thị Y, chị Trương Thị H cùng cư trú tại ã Cư Pui, hu ện K’Rông Bông, tỉnh Đắc Lắc đến hu ện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng để tìm việc làm thuê h i cà phê. Kho ng 12 giờ cùng ngày, một người e ôm chỉ anh S và những người đi cùng vào ã Tân Hà để tìm việc làm. Tại ã Tân Hà, anh S và những người đi cùng gặp bị c o Tr; qua nói chu ện bị c o Tr nói nhóm của anh S vào em vườn cà phê của bị c o Tr tại thôn Th ng Nhất, ã Đan Phượng, hu ện Lâm Hà, rồi mới nhận h i thuê cà phê ha không. Sau đó, bị c o Tr dùng e ô tô chở c nhóm của anh S đến vườn cà phê ở thôn Th ng Nhất, ã Đan Phượng để em vườn. Sau khi em ong, tất c vào trong nhà để thỏa thuận. Do thấ vườn cà phê của bị c o Tr chỉ có 03 sào (3.000m2) và nhiều đ , nên nhóm của anh S không đồng ý h i cà phê. Tại phòng khách nhà bị c o Tr, bị c o Tr nói “Nếu không nhận hái cà phê thì phải trả tiền công chở người vào và tiền dầu 1.000.000đ/người, tổng số tiền phải trả là 8.000.000đ”. Anh S in bị c o Tr cho mỗi người tr 100.000đ nhưng bị c o Tr không đồng ý, êu cầu ph i tr đủ 8.000.000đ mới cho đi. Lúc nà , chị N đi ra khỏi nhà thì bị c o Tr gọi bị c o R đang làm ở vườn vào và dùng ta đ nh vào đầu của chị N. Sau khi bị c o R đ nh chị N, bị c o Tr nói với bị c o R đứng canh cửa ngoài không cho ai đi. Bị c o Tr tiếp tục chửi bới hù dọa và cầm 01 con dao bấm trên ta , có lời nói u hiếp và bắt nhóm của anh S ph i gom đủ 8.000.000đ. Do bị u hiếp về tinh thần, nên anh T đi gom tiền của những người đi làm cùng đủ 8.000.000đ để đưa cho bị c o Tr. Khi đưa tiền ong, bị c o Tr lấ giấ và đọc cho anh tính viết giấ hợp đồng làm công với nội dung “Nhận hái cà phê nhưng sau đó không hái phải đền tiền”. Sau khi anh T viết giấ ong, anh S và những người đi cùng mới được đi về. Trong lúc bị c o Tr, bị c o R đe dọa lấ s tiền 8.000.000đ, chị M đã bí mật ghi âm vào điện thoại và giao nộp cho Cơ quan điều tra.

Tại Kết luận gi m định s : 527/C54B ngày 16-04-2018 của Phận viện khoa học hình sự C54B kết luận “Tín hiệu tiếng nói yếu, nền nhiễu lớn không thể hiện đầ đủ các thông s phân tích phổ nên không có đủ điều kiện gi m định ”.

Vật chứng thu giữ: 01 ví da màu nâu; 01 chứng minh nhân dân mang tên Trần Huy Tr, s tiền 8.000.000đ; 01 con dao bấm (dài 18cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng; 01 con dao dài 57 cm, cán bằng gỗ, lưỡi dao màu trắng); 01 giấ “Hợp đồng làm công”. Cơ quan điều tra xử lý vật chứng tr lại 8 triệu cho bị hại.

Tại B n án s : 68/2018/HS-ST ngày 20-9-2018 đã tu ên b các bị cáo Trần Huy Tr, Triệu Sa R phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

- Áp dụng kho n 1 Điều 135 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 (sau đây gọi chung Bộ luật hình sự năm 1999); Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm s kho n 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây gọi chung Bộ luật hình sự năm 2015) đ i với bị cáo Tr, bị cáo R; bị cáo Tr bị áp dụng thêm điểm h kho n 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt: Bị c o Trần Huy Tr 18 th ng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24-12-2017.

Xử phạt: Bị cáo Triệu Sa R 12 th ng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17-01-2018.

Ngoài ra, B n án còn gi i quyết về vật chứng, tuyên quyền kháng cáo thoe qu định pháp luật.

Ngày 24-9-2018 các bị cáo Trần Huy Tr, Triệu Sa R đều kháng cáo xin gi m nhẹ hình phạt

Tại phiên tòa phúc thẩm; các bị cáo không thắc mắc, khiếu nại đ i với B n n sơ thẩm; đồng thời giữ ngu ên kh ng c o, đề nghị Tòa án xem xét.

Người bào chữa cho các bị cáo cho rằng cấp sơ thẩm chưa p dụng tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự qu định điểm b kho n 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo Triệu Sa R là dân tộc thiểu s , nên nhận thức lạc hậu; cấp sơ thẩm chưa p dụng tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự qu định điểm m kho n 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do vậ , đề nghị chấp nhận kháng cáo của các bị c o. Tu nhiên, theo quan điểm cá nhân của Luật sư cho rằng c c cơ quan tiến hành t tụng cấp sơ thẩm hình sự hóa quan hệ dân sự. Bởi lẽ, việc thỏa thuận làm công h i cà phê và sau khi đi coi vườn cà phê thì các bị hại không đồng ý làm thuê. Theo thỏa thuận miệng rằng các bị hại không làm công thì ph i bồi thường, thể hiện bằng giấy tay do chính bị hại viết. Bên cạnh đó c c bị cáo không thực hiện hành vi uy hiếp các bị hại, nên không thể quy kết các bị cáo phạm tội “Cưỡng đoạt tài s n”, đề nghị Tòa xem xét.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị căn cứ điểm a kho n 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật t tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; giữ nguyên b n n sơ thẩm.

NHẬN ỊNH C A TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ n, căn cứ vào c c tài liệu trong hồ sơ vụ n đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng ét ử nhận định như sau:

[1] Xuất phát từ việc bị cáo Tr chở các bị hại anh S, chị D, anh N, chị M, anh T, anh K, chị Y, chị H đến vườn cà phê để coi sau đó thỏa thuận thuê h i cà phê. Tu nhiên, do không thỏa thuận được, bị c o Tr êu cầu “Nếu không nhận hái cà phê thì phải trả tiền công chở người vào và tiền dầu 1.000.000đ/người, tổng số tiền phải trả là 8.000.000đ”. Bị hại anh S in bị c o Tr cho mỗi người tr 100.000đ nhưng bị c o Tr không đồng ý, êu cầu ph i tr đủ 8.000.000đ mới cho đi. Khi chị N đi ra khỏi nhà thì bị cáo Tr gọi bị c o R đang làm ở vườn vào và bị c o R dùng ta đ nh vào đầu của chị N. Sau khi bị c o R đ nh chị N, bị cáo Tr nói với bị c o R “Đứng canh cửa ngoài không cho ai đi”. Bị c o Tr tiếp tục chửi bới, hù dọa và cầm 01 con dao bấm trên ta , có lời nói u hiếp và bắt nhóm của anh S ph i gom đủ 8.000.000đ. Do bị u hiếp về tinh thần, nên anh T đi gom tiền của những người đi làm cùng đủ 8.000.000đ để đưa cho bị c o Tr. Khi đưa tiền ong, bị c o Tr lấ giấ và đọc cho anh T viết giấ hợp đồng làm công với nội dung “Nhận hái cà phê nhưng sau đó không hái phải đền tiền”. Sau khi anh T viết giấ ong, anh S và những người đi cùng mới được đi về.

Luật sư cho rằng quan hệ thỏa thuận thuê h i cà phê nhưng không hái cà phê thì ph i đền tiền là không có căn cứ. Bởi lẽ việc thỏa thuận làm công h i cà phê ph i b o đ m tự ngu ện theo qu định ph p luật dân sự; không có chế tài qu định ph i đền tiền. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị c o Tr cũng khai “Bị cáo sử dụng xe tải chở các bị hại vào vườn cà phê khoảng 10 km” để cho rằng s tiền 1.000.000đ/người là kho n tiền công, tiền dầu c c bị hại ph i tr của quan hệ thỏa thuận không hái cà phê thì ph i đền tiền là không có căn cứ. Về hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực được thể hiện khi chị N đi ra khỏi nhà thì bị c o Tr gọi bị c o R đang làm ở vườn vào và bị c o R dùng ta đ nh vào đầu của chị N. Sau khi bị cáo R đ nh chị N, bị c o Tr nói với bị c o R “Đứng canh cửa ngoài không cho ai đi”; bị c o Tr tiếp tục chửi bới, hù dọa và cầm 01 con dao bấm trên ta , có lời nói u hiếp và bắt nhóm của anh S ph i gom đủ 8.000.000đ thể hiện đe dọa sẽ dùng vũ lực. Đ i chiếu lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, lời khai các bị hại, vật chứng thu giữ; Tòa án cấp sơ thẩm đ nh gi toàn diện chứng cứ, đã tu ên b bị cáo Tr, bị cáo R phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo kho n 1 Điều 135 Bộ luật hình sự 1999 là có căn cứ.

[2] Xét kháng cáo của các bị cáo xin gi m nhẹ hình phạt, đ i chiếu tài liệu chứng cứ thể hiện. Các bị cáo thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm hại đến tài s n của người kh c được pháp luật b o vệ. Bị cáo Tr đã bị kết án về tội “Cướp giật tài s n” chưa được xóa án tích, nay tiếp tục phạm tội, nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” qu định điểm h kho n 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự 2015. Bên cạnh đó c c bị c o đều “Thành khẩm khai báo”, nên đều đã được áp dụng các tình tiết gi m nhẹ quy định điểm s kho n 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015. Đ i với bị cáo R đã được áp dụng Điều 17, 58 của Bộ luật hình sự 2015 về nguyên tắc quyết định hình phạm của đồng phạm là phù hợp.

Luật sư bào chữa cho rằng bị cáo Tr đã bồi thường 8.000.000đ là không có căn cứ. Bởi lẽ sau khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị hại t c o và Cơ quan điều tra thu giữ s tiền 8.000.000đ là vật chứng; đồng thời đã ử lý vật chứng tr cho bị hại, chứ không ph i bị cáo Tr bồi thường, nên không được áp dụng tình tiết gi m nhẹ qu định điểm b kho n 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015. Đ i với bị cáo R tuy là dân tộc thiểu s , trong khi đó nhân thân bị c o đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài s n”, na bị cáo tiếp tục phạm tội, nên không có căn cứ áp dụng tình tiết gi m nhẹ “Phạm tội do lạc hậu” qu định điểm m kho n 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị c o kh ng c o nhưng không có tình tiết gi m nhẹ nào mới. Do vậy, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; giữ nguyên B n n sơ thẩm.

[3] Về án phí: Do kháng cáo của bị c o không được chấp nhận, nên mỗi bị cáo ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm theo qu định

Vì các lẽ trên,

QUYẾ ỊNH:

Căn cứ điểm a kho n 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật t tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Huy Tr; bị cáo Triệu Sa R; giữ nguyên b n n sơ thẩm Xử:

1. Tuyên b các bị cáo Trần Huy Tr, bị cáo Triệu Sa R phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

- Áp dụng kho n 1 Điều 135 Bộ luật hình sự 1999, điểm s kho n 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 đ i với bị cáo Tr, bị cáo R. Bị cáo Tr bị áp dụng điểm h kho n 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự 2015; bị cáo R được áp dụng thêm c c Điều 17 Điều 58 của Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt bị c o Trần Huy Tr 18 (Mười tám) th ng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24-12-2017.

Xử phạt bị cáo Triệu Sa R 12 (Mười hai) th ng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17-01-2018.

2. Về n phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật t tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Trần Huy Tr, Triệu Sa R mỗi bị cáo ph i chịu 200.000đ n phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của b n n sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ