vanban.org

Bản án 97/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 18/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN DU
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2018/HS-ST
Ngày 18/6/2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Bình.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thế Lai

2. Ông Phạm Ngọc Mậu.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Chinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hòa– Kiểm sát viên.

Trong ngày 18/6/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bắc Ninh mở phiên toà công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 114/2018/TLST-HS ngày 29/5/2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2018/HSST- QĐ ngày 07 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Đình H, sinh năm 1978; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Đình S, sinh năm 1958; và bà Ma Thị H1, sinh năm 1958; Có vợ: Triệu Thị H2, sinh năm 1979(đã ly hôn); Con có 01 con, sinh năm 2004; Tiền sự:; Tiền án: không; Nhân thân: Ngày 28/12/1999 bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 30 tháng tù về tội: “Cướp tài sản của công dân”. Ngày 01/9/2002 chấp hành xong hình phạt; Là đối tượng sử dụng và lệ thuộc vào chất ma túy từ năm 2010 đến nay. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/3/2018 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Trung tâm viễn thông huyện T. Địa chỉ tại KCN Tiên Sơn, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng Q - Chức vụ: Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Đăng Q1, sinh năm 1981- Chức vụ: Phó Giám đốc. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 3 giờ ngày 13/3/2018, tại kho của Trung tâm Viễn thông huyện T ở khu công nghiệp TS, xã H, huyện T, H đã có hành vi trộm cắp 30 mét dây cáp đồng viễn thông có ký hiệu PCM 600x2x0,5mm với trọng lượng 102kg, thì bị phát hiện bắt quả tang.

Ngày 13/3/2018, ông Q1, Phó giám đốc là đại diện theo ủy quyền của Trung tâm viễn thông huyện T đã đến cơ quan điều tra Công an huyện T trình báo về việc bị trộm cắp số dây cáp đồng viễn thông trên. Ông Q1 trình bày đó là số dây cáp đồng đã qua sử dụng, được trung tâm viễn thông thu hồi lại để bán thanh lý.

Tại Biên bản họp định giá và kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T ngày 14/3/2018 kết luận: 30 mét dây cáp đồng viễn thông ký hiệu PCM 600x2x0,5mm đã qua sử dụng, thu hồi để bán thanh lý phế liệu trọng lượng 102kg có tổng trị giá là: 9.180.000 đồng.

Ngày 24/4/2018 Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại số dây cáp đồng viễn thông trên cho Trung tâm Viễn thông huyện T, ông Q1 là đại diện theo ủy quyền đã nhận lại đầy đủ tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì về trách nhiệm dân sự.

Tại bản Cáo trạng số 71/CT-VKS ngày 28/5/2018 của VKSND huyện Tiên Du đã truy tố Nguyễn Đình H về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: H là đối tượng sử dụng và lệ thuộc vào chất ma túy từ năm 2010. H làm phụ hồ và ăn ở tại công trình xây dựng thuộc khu A, phường Đ, thị xã T. Vì không có tiền mua ma túy để sử dụng, nên khoảng 3 giờ ngày 13/3/2018, H cùng đối tượng tên H3 cầm theo 01 chiếc kìm cộng lực dài 90cm có tay cầm bằng nhựa màu đen và 01 con dao loại dao gọt hoa quả dài 21cm phần chuôi bằng gỗ để đi trộm cắp tài sản. H3 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen – bạc của H3 (H không nhớ biển kiểm soát của xe) chở H đi đến Trụ sở Trung tâm viễn thông huyện T có địa chỉ tại KCN TS, xã H để trộm cắp dây cáp đồng viễn thông. Khi đến nơi, quan sát thấy xung quanh không có người qua lại, H3 đỗ xe máy ở trục đường TS11 phía trước tường rào hoa sắt của kho đợi ở ngoài, còn H cầm theo chiếc kìm cộng lực và con dao trèo qua tường rào hoa sắt vào bên trong. Vào được trong, H tiến đến 01 cuộn dây cáp ở vị trí sát tường rào hoa sắt, sử dụng kìm cộng lực cắt cuộn dây cáp thành từng đoạn nhỏ để vận chuyển ra ngoài. H cắt được 21 đoạn dây cáp thì dừng lại và vận chuyển những đoạn dây cáp trên ra ngoài phía tường rào hoa sắt đưa cho H3 đang đứng ở phía ngoài. Khi H3 vận chuyển được 9 đoạn dây cáp ra ngoài tường rào thì đúng lúc này lực lượng bảo vệ hạ tầng KCN TS phối hợp với Công an huyện T đi tuần tra phát hiện. Thấy bị phát hiện, H3 đã bỏ lại các đoạn dây cáp rồi điều khiển xe máy bỏ chạy, còn H đã trèo qua tường rào ra ngoài bỏ chạy thì bị lực lượng Công an bắt và thu giữ: 21 đoạn dây cáp đồng viễn thông ký hiệu loại PCM 600x2x0,5mm có độ dài ngắn khác nhau có phần vỏ bằng nhựa màu đen, phần lõi bằng đồng; 01 chiếc kìm cộng lực dài 90cm có tay cầm bằng nhựa màu đen; 01 con dao loại dao gọt hoa quả dài 21cm phần chuôi bằng gỗ.

Bị hại là Trung tâm viễn thông huyện T do ông Q1, Phó giám đốc là đại diện theo ủy quyền trình bày: Ngày 13/3/2018, Trung tâm viễn thông huyện T bị trộm cắp số dây cáp đồng viễn thông, số dây cáp đồng đã qua sử dụng, được Trung tâm thu hồi lại để bán thanh lý, nay đã nhận được tài sản, không yêu cầu, đề nghị gì.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện VKSND huyện T vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

* Về hình phạt:

- Hình phạt chính:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Đình H: từ 12 tháng tù đến 16 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 13/3/2018.

- Hình phạt bổ sung: Bị cáo nghề nghiệp không ổn định, kinh tế gia đình khó khăn nên xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung.

* Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét gải quyết.

* Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 BLTTHS, Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc kìm cộng lực dài 90cm có tay cầm bằng nhựa màu đen; 01 con dao loại dao gọt hoa quả dài 21cm phần chuôi bằng gỗ.

Bị cáo sau khi nghe Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện T trình bày lời luận tội không tranh luận về hành vi phạm tội, điều luật áp dụng mức hình phạt cũng như các vấn đề khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỒI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: Lời khai nhận của bị cáo tại cơ quan Cảnh sát điều tra, cũng như tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, kết luận định giá tài sản, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu được và các tài liệu chứng cứ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Bắc Ninh thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo H phạm tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 bộ luật hình sự như cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã quy kết.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của pháp nhân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo H không có tiền án, tiền sự, là đối tượng sử dụng và lệ thuộc vào chất ma túy từ năm 2010 đến nay và có nhân thân xấu, tuy nhiên, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, hơn nữa, bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian mới giúp bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại là Trung tâm viễn thông T do anh Q1 là người đại diện theo ủy quyền không yêu cầu, đề nghị gì, Hội đồng xét xử xét thấy đây là tự nguyện và phù hợp, do vậy, về trách nhiệm dân sự không xem xét giải quyết.

Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền là phù hợp.

Vật chứng: Đối với 01 chiếc kìm cộng lực dài 90cm có tay cầm bằng nhựa màu đen; 01 con dao loại dao gọt hoa quả dài 21cm phần chuôi bằng gỗ là công cụ phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

Đề nghị của đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện T tại phiên toà là chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

Đối với đối tượng tên H3 theo lời khai của H, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh được đối tượng tên Nguyễn Công H3, sinh năm 1983 ở khu phố M, phường T, thị xã T. Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập H3 đến làm việc, tuy nhiên hiện nay H3 không có mặt tại địa phương. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho H nhận dạng qua ảnh đối với H3, tuy nhiên quá trình nhận dạng H xác nhận không phải là đối tượng đã đi trộm cắp dây cáp viễn thông cùng H vào ngày 13/3/2018. Do đó cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ xác định đối tượng H3 nên đã tách ra để tiếp tục điều tra xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Từ những nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo

ình H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Xử phạt: Ng

H 10 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày

13/3/2018.

Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc kìm cộng lực dài 90cm có tay cầm bằng nhựa màu đen; 01 con dao loại dao gọt hoa quả dài 21cm phần chuôi bằng gỗ.

(Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 31/5/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T).

Án phí : Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ