vanban.org

Bản án 962/2026/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

TAND TP. Cần Thơ Tuyên án 07/08/2026 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/08/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Phan Thị Trúc P.

2/- Giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 49/2026/DS-ST ngày 17/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Cần Thơ. 3/- Về án phí phúc thẩm: bị đơn phải chịu 300.000đ; chuyển số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai số 0009159 ngày 11/5/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ thành án …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Trịnh Chúc L-Phan Thị Trúc P"
  • Tòa quyết gì? 1/- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Phan Thị Trúc P.
  • Căn cứ chính? Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 962/2026/DS-PT
Ngày: 07/8/2026
V/v “Tranh chấp bồi thường thiệt

hại về sức khỏe và tổn thất tinh thần”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Quốc

Các Thẩm phán: 1/- Ông Võ Bảo Anh.

2/- Bà Nguyễn Thị Trang Thư.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Minh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Sơn Cươi - Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1031/2026/TLPT-DS ngày 03/7/2026 về “Tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe và tổn thất tinh thần”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 49/2026/DS-ST ngày 17/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Cần Thơ bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1360/2026/QĐ-PT ngày 14/7/2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trịnh Chúc L, sinh năm: 1987. Địa chỉ: ấp T, phường K, thành phố Cần Thơ.

2. Bị đơn: Bà Phan Thị Trúc P, sinh năm: 1982. Địa chỉ: số G khu dân cư T, khu V, phường S, thành phố Cần Thơ.

3. Người kháng cáo: Bị đơn bà Phan Thị Trúc P.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn bà Trịnh Chúc L thông qua người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Sau khi được bà Phan Thị Trúc P là Chủ hộ kinh doanh Spa P tư vấn và thỏa thuận thống nhất thực hiện dịch vụ phẫu thuật thẩm mỹ nâng mũi với số tiền 8.000.000đ. Ngày 25/11/2023 bà L đến Spa P để làm phẫu thuật và được bác sĩ tên Đoàn Hữu Đ thực hiện phẫu thuật thẩm mỹ nâng mũi. Sau khi phẫu thuật xong, bà P có ghi cho bà L toa thuốc ra ngoài mua uống 11 ngày sẽ quay lại tái khám. Tuy nhiên, sau khi phẫu thuật về thì bà L thường xuyên bị đau nhức mũi và chảy dịch mũi nên bà L đến S P để bác sĩ Đ và bà P kiểm tra lại. Sau khi kiểm tra, bà P tiếp tục cho toa thuốc để bà L mua thuốc uống thêm trong khoảng thời gian 02 tháng nhưng không hết, mà có biểu hiện biến chứng nặng thêm, khuôn mặt và toàn thân sưng phù, căng tròn. Vì vậy, ngày 28/11/2024 gia đình đưa bà L đến Bệnh viện Đ1 khám, điều trị nhưng không hết và đến ngày 05/12/2024 nhập viện điều trị đến ngày 16/12/2024. Qua điều trị, được Bệnh viện Đ1 chuẩn đoán bà L bị các bệnh nhiễm trùng khác không xác định, Hội chứng Cushing và cần phải điều trị phẫu thuật chỉnh các biến chứng sau chích làm đầy vùng mũi và phẫu thuật lấy silicon mũi ra.

Qua tìm hiểu được biết tại thời điểm thực hiện phẩu thuật thẩm mỹ cho bà L thì Spa P chưa được Sở Y tế tỉnh S cấp chứng chỉ hành nghề và Giấy phép hoạt động; bác sĩ Đoàn Hữu Đ người trực tiếp phẫu thuật cho bà L cũng không có đăng ký chuyên môn theo quy định của Luật Khám, chữa bệnh; đã làm ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần và quyền lợi hợp pháp của bà L. Do đó, bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà P là Chủ hộ kinh doanh Spa P1 (nay đã đổi tên thành Viện thẩm mỹ P2) bồi thường các khoản chi phí như sau:

1. Chi phí phẫu thuật nâng mũi 8.000.000 đồng.

2. Chi phí nằm viện điều trị từ ngày 05/12/2024 đến ngày 16/12/2024 tổng cộng là 8.251.676 đồng.

3. Tiền mất thu nhập của bà L trong thời gian nằm viện 12 ngày và 01 ngày nhập viện khám bệnh 28/11/2024: 300.000đ/ngày x 13 ngày = 3.900.000đ.

4. Tiền công người nuôi bệnh 13 ngày: 300.000đ/ngày x 13 ngày = 3.900.000đ.

5. Tiền thuốc điều trị và viện phí theo hóa đơn tổng cộng là: 4.967.656đ.

6. Tiền xe đi khám bệnh và điều trị tổng cộng 09 lần: mỗi lần 1.000.000đ x 09 lần = 9.000.000đ.

7. Tiều bồi thường tổn thất tinh thần 20 tháng lương cơ sở: 2.340.000đ x 20 tháng = 46.800.000đ.

Tổng cộng là 84.819.332 đồng.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về phần bồi thường tổn thất tinh thần là 05 tháng lương cơ sở: 2.340.000đ x 05 tháng = 11.700.000đ; Tổng số tiền yêu cầu bồi thường là 49.719.332 đồng.

* Bị đơn bà Phan Thị Trúc P trình bày:

Không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bởi các lý do sau:

Một là: bà không phải là chủ của Viện thẩm mỹ P2, mà chỉ là người tư vấn dịch vụ cho bà L để hưởng % từ bác sĩ, ca phẫu thuật thẩm mỹ nâng mũi của bà L không phải thực hiện tại Viện thẩm mỹ P2. Bà không phải là người trực tiếp phẫu thuật cho bà L, mà do bác sĩ Đoàn Hữu Đ thực hiện (bác sĩ của Công ty TNHH V), bà chỉ là cộng tác viên với Công ty TNHH V.

Hai là: sau khi bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ nâng mũi cho bà L xong, thì bà có nhiều lần liên lạc qua điện thoại với bà L để hỏi tình trạng sức khỏe, tiến độ làm lành vết thương thì được bà L cho biết là rất ổn, không sao. Đến khoảng 01 năm sau ngày sửa mũi, ngày 28/11/2024 thì người nhà của bà L điện thoại cho biết là tình trạng của bà L bị sưng toàn mặt, nhưng phần mũi vẫn bình thường và bác sĩ đã nhiều lần nhờ bà gửi lời đề nghị bà L đến bệnh viện chuyên khoa tại Thành phố Hồ Chí Minh để thăm khám, toàn bộ chi phí sẽ được bác sĩ hỗ trợ, nhưng không được phía bà L đồng ý. Đồng thời, bà đã nhiều lần liên hệ đề nghị cùng đi với bà L đến bệnh viện tại Thành phố Hồ Chí Minh để thăm khám, nhưng phía bà L vẫn từ chối, cho rằng không sao. Tuy nhiên phía gia đình bà L lại nhiều lần lấy hình ảnh của Viện thẩm mỹ P2 để đăng lên mạng xã hội làm ảnh hưởng uy tín của bà.

Ba là: theo Kết luận giám định số 10271/TB-VPCQCSĐT ngày 23/6/2025 của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh S, kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà L là 00% và không phát hiện dấu vết tổn thương vùng mũi của bà L.

Vụ việc hòa giải không thành nên Tòa án nhân dân khu vực 5 - Cần Thơ đưa ra xét xử; tại Bản án sơ thẩm số 49/2026/DS-ST ngày 17/4/2026 đã tuyên:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trịnh Chúc L. Buộc bị đơn bà Phan Thị Trúc P có nghĩa vụ bồi thường cho bà Trịnh Chúc L các khoản chi phí điều trị bệnh như viện phí, chi phí khám, chữa bệnh, tiền thuốc, tiền mất thu nhập trong thời gian điều trị bệnh, tiền xe đi lại khám, chữa bệnh của người bệnh và người nuôi bệnh với tổng số tiền là 22.619.332 đồng

Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trịnh Chúc L về yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần 05 tháng lương cơ sở và đòi lại chi phí phẫu thuật thẩm mỹ.

Ngoài ra bản án còn tuyên về việc trả lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ, án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 29/4/2026 bị đơn bà Phan Thị Trúc P nộp đơn kháng cáo yêu cầu phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; nguyên đơn vắng mặt.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: đương sự và Tòa án đã thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; Về nội dung: theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, xét kháng cáo của bị đơn không có căn cứ, đề nghị không chấp nhận kháng cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

* Về thủ tục tố tụng:

[1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại về sức khỏe và tổn thất tinh thần với số tiền 49.719.332đ do phát sinh từ việc phẫu thuật thẩm mỹ nâng sửa mũi đã gây ảnh hưởng và thiệt hại cho nguyên đơn. Cấp sơ thẩm xác định “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm” theo khoản 6 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự là có căn cứ.

[2] Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, phiên tòa phúc thẩm vẫn tiến hành theo quy định.

* Về nội dung: Bị đơn kháng cáo cho rằng thiệt hại của nguyên đơn không phải do bị đơn gây ra, bị đơn không có lỗi, yêu cầu bác khởi kiện của nguyên đơn. Trong mối quan hệ tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phải xét đến 04 yếu tố, đó là: Có thiệt hại thực tế xảy ra; Có hành vi vi phạm pháp luật; Có mối quan hệ nhân quả và Có lỗi của người gây thiệt hại. Xét thấy:

[3] Về thiệt hại thực tế: theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện ngày 25/11/2023, nguyên đơn có đến Công ty TNHH P3 (Spa Phượng), do bị đơn làm chủ để phẫu thuật thẩm mỹ nâng sửa mũi với giá tiền 8.000.000đ. Sau khi phẫu thuật xong, nguyên đơn được bác sĩ tại đây cho toa để ra ngoài tự mua thuốc uống làm lành vết thương sau phẫu thuật thẩm mỹ. Tuy nhiên, sau khi uống thuốc theo toa chỉ định của bác sĩ Spa P1 một thời gian thì nguyên đơn bị bệnh hội chứng Cushing và các bệnh nhiễm trùng khác phải nằm viện điều trị 12 ngày tại Bệnh viện Đ1 (từ 05/12/2024 đến 16/12/2024). Trong quá trình điều trị, được bác sĩ chỉ định phẫu thuật lại phần mũi đã được phẫu thuật thẩm mỹ nâng sửa mũi trước đó tại Spa P1 do bị nhiễm trùng. Kết quả chi phí điều trị lại của nguyên đơn tại Bệnh viện Đ1 trong 12 ngày với các khoản chi phí thuốc men, tiền xe đi lại và thu nhập thực tế bị mất… tồng cộng hơn 20 triệu. Như vậy về thiệt hại thực tế đối với nguyên đơn là có xảy ra.

[4] Về yếu tố có hành vi vi phạm pháp luật: Hồ sơ vụ án cũng thể hiện tại thời điểm ngày 25/11/2023, Spa P1 cung cấp dịch vụ phẫu thuật thẩm mỹ nâng sửa mũi cho nguyên đơn thì Spa P1 không có đăng ký hành nghề kinh doanh dược phẩm và dịch vụ phẫu thuật thẩm mỹ, không có giấy phép hoạt động, đã vi phạm khoản 2 Điều 6 Luật Khám chữa bệnh. Đồng thời, bác sĩ Đoàn Hữu Đ người trực tiếp thực hiện ca phẫu thuật thẩm mỹ cho nguyên đơn không có thông báo đến Sở y tế tỉnh S theo quy định; đây là hành vi khám, chữa bệnh vượt quá phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trên giấy phép hoạt động, vi phạm khoản 3 Điều 6 Luật Khám chữa bệnh. Như vậy phía bị đơn đã hội đủ yếu tố thứ hai là có hành vi vi phạm pháp luật.

[5] Về mối quan hệ nhân quả: thực tế đã cho thấy do nguyên đơn làm phẫu thuật thẩm mỹ nâng sửa mũi tại cơ sở của bị đơn, mới dẫn đến bị nhiễm trùng vết thương sau phẫu thuật thẩm mỹ. Nguyên đơn phải tiến hành phẫu thuật lại và điều trị tại Bệnh viện Đ1 12 ngày mới lành hẳn. Do đó, mối quan hệ nhân quả trong vụ án phát sinh từ nguyên nhân thực hiện ca phẫu thuật thẩm mỹ nâng sửa mũi tại cơ sở Spa Phượng của bị đơn là thực tế có xảy ra.

[6] Cuối cùng là yếu tố có lỗi của người gây thiệt hại: Nguyên đơn làm phẫu thuật thẩm mỹ tại cơ sở do bị đơn đăng ký kinh doanh, là người đại diện theo pháp luật của Spa P1. Cơ sở của bị đơn cung cấp dịch vụ cho khách hàng, bác sĩ trực tiếp thực hiện ca phẫu thuật là do cơ sở của bị đơn hợp tác. Hậu quả biến chứng nhiễm trùng vết mỗ sau phẫu thuật do cơ sở của bị đơn gây ra, đã làm tổn thương và thiệt hại về sức khỏe cho nguyên đơn. Do đó, khi có tranh chấp với khách hàng thì bị đơn là chủ cơ sở đăng ký kinh doanh là người phải chịu trách nhiệm pháp lý. Hơn nữa, tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn cũng thừa nhận khi được nguyên đơn phản ánh về tình trạng sau phẫu thuật thẩm mỹ, thì bị đơn và bác sĩ của Spa P1 cũng có thiện chí muốn đưa nguyên đơn lên các Bệnh viện có chuyên môn tốt tại Thành phố Hồ Chí Minh để kiểm tra, điều trị và phía bị đơn sẽ chịu toàn bộ chi phí nhưng nguyên đơn không đồng ý, không hợp tác. Điều này chứng tỏ bị đơn xác nhận bản thân cũng có lỗi đối với hậu quả thiệt hại đã xảy ra đối với nguyên đơn.

[7] Từ những phân tích trên đã đủ cơ sở kết luận cấp sơ thẩm quy kết bị đơn có lỗi gây ra thiệt hại đối với nguyên đơn, buộc bị đơn có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn các khoản viện phí, thuốc men điều trị theo các chứng từ hóa đơn hợp lệ, tiền mất thu nhập trong 13 ngày nằm viện của nguyên đơn và người nuôi bệnh cũng như chi phí xe cộ đi lại tổng cộng 22.619.332đ là có căn cứ và không chấp nhận khoản tổn thất tinh thần 05 tháng lương cơ sở là đã có lợi cho bị đơn. Bởi lẽ, việc phẫu thuật thẩm mỹ tại cơ sơ của bị đơn đã làm cho nguyên đơn bị biến chứng, nhiễm trùng phải phẫu thuật chỉnh sửa lại, điều trị để phục hồi, tất yếu có ảnh hưởng về mặt tinh thần của nạn nhân. Cấp sơ thẩm cho rằng không có tổn thất về tinh thần đối với nguyên đơn là chưa đánh giá đúng bản chất của sự việc. Tuy nhiên, do nguyên đơn không kháng cáo nên phúc thẩm không xem xét phần này.

[8] Xét kháng cáo của bị đơn không có cơ sở nên không chấp nhận, cần giữ nguyên quyết định của án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp và có căn cứ.

[9] Về án phí: kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

1/- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Phan Thị Trúc P.

2/- Giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 49/2026/DS-ST ngày 17/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Cần Thơ.

3/- Về án phí phúc thẩm: bị đơn phải chịu 300.000đ; chuyển số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai số 0009159 ngày 11/5/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ thành án phí phúc thẩm; đã nộp xong.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2025 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 36 và 71 của Luật Thi hành án dân sự năm 2025; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 của Luật Thi hành án dân sự năm 2025.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ