- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị Phạm Hồng L và anh Nghiêm Nghĩa T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Hồng L được ly hôn anh Nghiêm Nghĩa T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 96/2026/HNGĐ-ST Ngày 29-5-2026 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trương Thị An;
Bà Đặng Thị Minh.
- Thư ký phiên toà: Ông Lương Đăng Bùi - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Gia Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 107/2026/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2026 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2026/QĐXXST- HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2026/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Hồng L, sinh năm 2000, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; nơi cư trú: Thôn H, xã A, thành phố Hải Phòng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nghiêm Nghĩa T, sinh năm 1998, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; nơi cư trú: Thôn H, xã A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.oà, V, Hải Phòng
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Phạm Hồng L trình bày: Chị và anh Nghiêm Nghĩa T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện A (nay là xã A), thành phố Hải Phòng ngày 01 tháng 8 năm 2019. Sau khi kết hôn anh chị chung sống với bố mẹ anh T tại thôn H, xã A. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận đến năm 2024 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn; nguyên nhân do bất đồng về quan điểm, lối sống nên vợ chồng thường xuyên cãi vã dẫn đến cuộc sống gia đình ngột ngạt, căng thẳng. Chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống từ tháng 11 năm 2025 đến nay nên vợ chồng sống ly thân, không quan tâm nhau. Nay, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ nên chị đề yêu cầu được ly hôn anh T. Chị và anh T có 01 con chung là Nghiêm Thùy C, sinh ngày 20 tháng 01 năm 2020. Ly hôn chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng cho con và tài sản chung. Chị đang làm công nhân tại Công ty TNHH S với thu nhập khoảng 10.000.000 đồng/tháng nên đủ điều kiện nuôi con.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật cho bị đơn nhưng anh Nghiêm Nghĩa T không đến Tòa án tham gia tố tụng.
Xác minh tại gia đình và chính quyền địa phương về quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh T thể hiện: Anh chị tự nguyện kết hôn và chung sống cùng bố mẹ đẻ anh T tại thôn H, xã A, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, khác nhau về quan điểm sống. Từ cuối năm 2025 đến nay chị L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống nên vợ chồng sống ly thân, không quan tâm nhau. Anh chị có một con chung là Nghiêm Thùy C, sinh ngày 20 tháng 01 năm 2020 đang sống chung với chị L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải theo thông báo của Tòa án, vi phạm khoản 15, khoản 16 Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã thụ lý đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ pháp luật của vụ án là về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
Về quan hệ hôn nhân, mâu thuẫn tình cảm giữa chị L và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vi phạm Điều 19, Điều 21 của Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L được ly hôn anh T. Giao con chung Nghiêm Thùy C, sinh ngày 20 tháng 01 năm 2020 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Không xem xét, giải quyết về cấp dưỡng cho con và tài sản chung do đương sự không yêu cầu. Chị L là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; chị L và anh T có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án dân sự về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Bị đơn là anh Nghiêm Nghĩa T có nơi cư trú tại xã A, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng.
Các hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp; các đương sự, người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì.
Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ. Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị L và anh T.
- Về nội dung:
Chị Phạm Hồng L và anh Nghiêm Nghĩa T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện A (nay là xã A), thành phố Hải Phòng ngày 01 tháng 8 năm 2019 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Chị Phạm Hồng L trình bày phù hợp với các tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được có trong hồ sơ vụ án nên có căn cứ xác định: Sau khi kết hôn chị L và anh T sống chung tại thôn H, xã A, thành phố Hải Phòng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp, khác nhau về quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất hoà; gia đình đã nhiều lần hoà giải nhưng không thành; từ cuối năm 2025 đến nay anh chị đã sống ly thân, mỗi người một nơi, không quan tâm đến nhau. Xét thấy, chị L và anh T đã không còn yêu thương, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc gia đình; không chung sống với nhau; vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng được quy định tại Điều 19 và Điều 21 của Luật Hôn nhân và gia đình. Do mâu thuẫn giữa chị L và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị L được ly hôn anh T.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Nghiêm Thùy C, sinh ngày 20 tháng 01 năm 2020. Xét thấy, việc nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con chung hai bên cha mẹ đều có tình cảm, quyền và trách nhiệm như nhau. Hiện nay, cháu Nghiêm Thùy C đang chung sống với mẹ và chị L có chỗ ở, công việc ổn định, đủ điều kiện nuôi con. Vì vậy, để đảm bảo sự ổn định về mặt tâm lý, sự phát triển về mọi mặt của con khi cha mẹ ly hôn nên căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình giao con Nghiêm Thùy C cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, chị L và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Chị Phạm Hồng L và anh Nghiêm Nghĩa T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Phạm Hồng L là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Hồng L và anh Nghiêm Nghĩa T có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Hồng L được ly hôn anh Nghiêm Nghĩa T.
2. Về con chung: Giao con chung Nghiêm Thùy C, sinh ngày 20 tháng 01 năm 2020 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng cho con chị L và anh T không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Chị Phạm Hồng L và anh Nghiêm Nghĩa T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Chị Phạm Hồng L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002777 ngày 13 tháng 3 năm 2026 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Hồng L và anh Nghiêm Nghĩa T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND khu vực 2 - Hải Phòng; - Phòng THADS khu vực 2 - Hải Phòng; - UBND xã An Quang (ĐKKH năm 2019); - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng |