- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc Thuấn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10-CẦN THƠ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 96/2026/HNGĐ-ST Ngày: 29/5/2026 “V/v ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10-CẦN THƠ
* Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nhẫn
- Các Hội thẩm nhân dân:
1/. Ông Nguyễn Văn Sơn
2/. Bà Tăng Thị Bạch Vân
* Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lý Hồng Trang, Thư ký Tòa án nhân
dân khu vực 10-Cần Thơ.
Trong ngày 29 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 10-Cần
Thơ, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 34/2026/TLST-HNGĐ ngày 20/01/2026, về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 243/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/4/2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 193/2026/QĐST-HNGĐ ngày 07/5/2026 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 164/TB-TA, ngày 13/5/2026, giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc Thuấn, sinh ngày 01/01/1974; CCCD:
xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 30/5/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội. Địa chỉ: ấp 5A, xã Đại Hải, thành phố Cần Thơ, (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Lê Thị Sáu, sinh năm 1973; Căn cước: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày
04/10/2024, nơi cấp: Bộ Công an. Địa chỉ: ấp 5A, xã Đại Hải, thành phố Cần Thơ, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 10/12/2025, nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc Thuấn trình bày: Vào năm 1995, ông Thuấn và bà Sáu quen biết nhau, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ba Trinh, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã Đại hải, thành phố Cần Thơ). Trong quá trình chung sống ông và bà Sáu có 01 con chung tên Nguyễn Lê Bo, sinh ngày 17/01/2007, hiện nay đã trưởng thành và có cuộc sống riêng. Thời gian đầu chung sống với nhau hạnh phúc. Tuy nhiên, gần đây ông và bà Sáu phát sinh mâu thuẫn, cự cãi với nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, giữa ông và bà Sáu không sống chung với nhau từ năm 2017 cho đến nay không hàn gắn được, từ đó làm cho cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Nhận thấy đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Thuấn yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 10-Cần Thơ giải quyết cho ông được ly hôn với bà Sáu; Về con chung, ông và bà Sáu có một người con chung tên Nguyễn Lê Bo, sinh ngày 17/01/2007, hiện nay đã trưởng thành và có cuộc sống riêngông Thuấn không yêu cầu giải quyết; Về tài sản chung và nợ chung tự thỏa thuận, ông Thuấn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn bà Lê Thị Sáu đã được Tòa án thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà Sáu đều vắng mặt không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông Thuấn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Ngọc Thuấn có đơn yêu cầu Tòa án xét
xử vắng mặt, bà Lê Thị Sáu đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bà Sáu vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Tòa án căn cứ vào khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 1995, ông Thuấn và bà Sáu quen biết nhau,
có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ba Trinh, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã Đại hải, thành phố Cần Thơ). Trong quá trình chung sống ông và bà Sáu có 01 con chung tên Nguyễn Lê Bo, sinh ngày 17/01/2007, hiện nay đã trưởng thành và có cuộc sống riêng. Thời gian đầu chung sống với nhau hạnh phúc. Tuy nhiên, gần đây ông và bà Sáu phát sinh mâu thuẫn, cự cãi với nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, giữa ông và bà Sáu không sống chung với nhau từ năm 2017 cho đến nay không hàn gắn được, từ đó làm cho cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Nhận thấy đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Thuấn yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 10-Cần Thơ giải quyết cho ông được ly hôn với bà Sáu. Thì thấy rằng: Hôn nhân giữa ông Thuấn và bà Sáu đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, không có biện pháp hàn gắn tình cảm, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Thuấn, cho ông và bà Sáu được ly hôn để mỗi người tạo lập cuộc sống mới.
Về con chung: ông Thuấn và bà Sáu có một người con chung tên Nguyễn
Lê Bo, sinh ngày 17/01/2007, hiện nay đã trưởng thành và có cuộc sống riêng, ông Thuấn không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông Thuấn trình bày tự thỏa thuận không
yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Ông Nguyễn Ngọc Thuấn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình
sơ thẩm 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39;
khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc Thuấn.
1/. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Ngọc Thuấn được ly hôn với bà Lê Thị
Sáu.
2/. Về con chung: Ông Thuấn và bà Sáu có một người con chung tên Nguyễn
Lê Bo, sinh ngày 17/01/2007, hiện nay đã trưởng thành và có cuộc sống riêng, ông Thuấn không yêu cầu giải quyết, nên không đặt ra xem xét.
3/. Về tài sản chung và nợ chung: ông Thuấn trình bày tự thỏa thuận, không
yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4/. Về án phí: Ông Nguyễn Ngọc Thuấn phải chịu án phí hôn nhân gia đình
sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0001314, ngày 20/01/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Bà Sáu không phải chịu án phí sơ thẩm.
5/. Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án, để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
6/. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Sơn Tăng Thị Bạch Vân
Nguyễn Văn Nhẫn