vanban.org

Bản án 96/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thị D - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 170 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2025/HS-ST
Ngày 16 - 12 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hà Thị Hồng Thu

Ông Nông Ngọc Lâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Phượng - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 1 - Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Lạng Sơn, Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Lạng Sơn xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 91/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Hoàng Thị D, sinh ngày 20 tháng 8 năm 2003, tại Lạng Sơn; số CCCD: 020303003448 cấp ngày 20/7/2024; nơi đăng ký thường trú: Tổ 2, khối 28, phường Kỳ Lừa, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Hội (đã chết), con bà Bế Thị Thơ, sinh năm 1979, cha dượng Đỗ Văn Trình, sinh năm 1977; chồng: Chưa có; con: Có 01 con sinh tháng 10/2025; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử phạt hành chính hoặc xử lý kỷ luật lần nào; bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lạng Sơn từ ngày 25/8/2025 đến ngày 13/9/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bảo lãnh đến nay, có mặt.

- Bị hại: Anh Trương Thế B, sinh năm 1998; địa chỉ: Ngõ 247 đường L, khối *, phường Đ, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.

- Người làm chứng:

1. Chị Hứa Thị P, vắng mặt.

2. Anh Vũ Tích C, vắng mặt.

3. Chị Nguyễn Thu Trang, vắng mặt.

4. Anh Hoàng Minh V, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng năm 2022 Hoàng Thị D quen biết với Trương Thế B, đến tháng 12/2024 hai người phát sinh quan hệ tình cảm. Thời điểm đó Hoàng Thị D biết Trương Thế B có vợ là chị Nguyễn Thu Trang nhưng Trương Thế B nói rằng hai vợ chồng đã ly thân không còn chung sống với nhau. Khoảng tháng 3 năm 2025 khi biết Trương Thế B vẫn đang chung sống với vợ, Hoàng Thị D đã chấm dứt quan hệ tình cảm với Trương Thế B, nhưng do bực tức vì bị Trương Thế B nói dối nên Hoàng Thị D đã lập tài khoản Facebook mang tên “Kieu Vy” để nhắn tin bằng ứng dụng Messenger cho Trương Thế B, Nguyễn Thu Trang và người thân, bạn bè của Trương Thế B với nội dung Trương Thế B đã có vợ nhưng vẫn ngoại tình với người phụ nữ khác, khiến Trương Thế B hoang mang, lo lắng.

Để Trương Thế B không nghi ngờ, Hoàng Thị D thông tin rằng mình cũng bị tài khoản Facebook “Kieu Vy” nhắn tin với nội dung chửi bới, xúc phạm vì có quan hệ tình cảm với Trương Thế B.

Tháng 4 năm 2025, do không có tiền tiêu sài nên Hoàng Thị D nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của Trương Thế B. Ngày 17/4/2025 Hoàng Thị D sử dụng tài khoản Facebook “Kieu Vy” nhắn tin yêu cầu Trương Thế B chuyển 10.000.000 đồng đến tài khoản Techcombank 1903568136012 mang tên Hứa Thị P thì sẽ không tiếp tục làm phiền Trương Thế B và gia đình nữa. Để Trương Thế B tin tưởng, Hoàng Thị D nói tài khoản “Kieu Vy” cũng yêu cầu Hoàng Thị D chuyển số tiền 10.000.000 đồng để không bị nhắn tin làm phiền nữa, đồng thời Hoàng Thị D gửi cho Trương Thế B hình ảnh Hoàng Thị D đã chuyển số tiền 10.000.000 đồng cho tài khoản “Kieu Vy” do Hoàng Thị D đã chỉnh sửa làm giả.

Do lo sợ ảnh hưởng đến uy tín danh dự và không muốn người thân trong gia đình bị ảnh hưởng, nên cùng ngày 17/4/2025 Trương Thế B đã chuyển 6.000.000 đồng vào tài khoản Techcombank 1903568136012 mang tên Hứa Thị P, sau đó chị Hứa Thị P đã chuyển lại số tiền này cho Hoàng Thị D qua tài khoản MB Bank 336366368888 của Hoàng Thị D.

Sau khi nhận được tiền, Hoàng Thị D tiếp tục sử dụng Facebook “Kieu Vy” nhắn tin yêu cầu Trương Thế B chuyển thêm 4.000.000 đồng, nhưng Trương Thế B từ chối vì không có tiền. Sau đó Hoàng Thị D đã xóa tài khoản “Kieu Vy”, xóa thông tin đăng nhập khỏi điện thoại và bán điện thoại, nay không nhớ thông tin đăng nhập.

Qua công tác nghiệp vụ, phòng an ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Công an tỉnh Lạng Sơn phát hiện tài khoản Facebook tên “Kieu Vy” có dấu hiệu vi phạm pháp luật, nên đã chuyển hồ sơ đến văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn đề nghị tiếp tục điều tra. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn xác định tài khoản Facebook “Kieu Vy” do Hoàng Thị D sử dụng và thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số 27/CT-VKSKV1 ngày 17 tháng 11 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Lạng Sơn đã quyết định truy tố bị cáo Hoàng Thị D về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Thị D thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân như nội dung Cáo trạng đã truy tố.

Bị hại anh Trương Thế B khai: Do có quan hệ tình cảm, ngoại tình với Hoàng Thị D khi đang có vợ, con, nên anh đã bị người sử dụng tài khoản Facebook tên “Kieu Vy” nhắn tin đe dọa yêu cầu anh phải chuyển số tiền 10.000.000 đồng, nếu không sẽ công khai việc anh ngoại tình. Do lo sợ bị gia đình phát hiện việc mình ngoại tình, nên anh đã chuyển số tiền 6.000.000 đồng từ tài khoản VP Bank 199812345678910 mang tên anh vào tài khoản Techcombank 1903568136012 mang tên Hứa Thị P theo yêu cầu của “Kieu Vy” rồi chụp lại màn hình gửi hình ảnh vào Facebook “Kieu Vy”, sau đó tài khoản “Kieu Vy” tiếp tục yêu cầu anh chuyển thêm số tiền 4.000.000 đồng nhưng anh không chuyển; đến khoảng tháng 4 năm 2025 tài khoản “Kieu Vy” không còn nhắn tin cho anh nữa. Sau khi làm việc với cơ quan điều tra anh mới biết tài khoản Facebook “Kieu Vy” là của Hoàng Thị D sử dụng và thực hiện cưỡng đoạt tiền của anh. Nay anh đề nghị giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật và anh không yêu cầu Hoàng Thị D phải bồi thường hay khắc phục hậu quả về tiền, tài sản gì khác cho anh.

Tại phiên tòa, đại điện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị D phạm tội Cưỡng đoạt tài sản; áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Thị D từ 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, nhân đôi thời gian thử thách; về hình phạt bổ sung không áp dụng; về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xem xét; buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo và bị hại theo quy định.

Bị cáo Hoàng Thị D không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và không trình bày gì trong phần lời nói sau cùng.

[NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, người làm chứng Hứa Thị P, Vũ Tích C và Nguyễn Thu Trang vắng mặt nhưng trong quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, căn cứ khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người làm chứng nêu trên.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Về chứng cứ tài liệu trong vụ án được thu thập, bảo quản đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, nên các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Lời khai của bị cáo Hoàng Thị D tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, có đủ cơ sở để xác định: Từ tháng 3 đến tháng 4 năm 2025 Hoàng Thị D sử dụng mạng xã hội Facebook lập tài khoản tên “Kieu Vy” nhắn tin về việc Trương Thế B ngoại tình và chửi bới, xúc phạm đến Trương Thế B, bạn bè, người thân gia đình Trương Thế B, khiến Trương Thế B hoang mang, lo lắng. Ngày 17/4/2025 Hoàng Thị D đã sử dụng Facebook tên “Kieu Vy” yêu cầu Trương Thế B chuyển tiền cho mình thì sẽ không tiếp tục làm phiền đến bản thân, gia đình và bạn bè của Trương Thế B nữa. Do lo sợ bị gia đình phát hiện việc ngoại tình và bị Facebook tên “Kieu Vy” chửi bới, khiến người thân trong gia đình và bạn bè bị làm phiền, nên Trương Thế B đã chuyển số tiền 6.000.000 đồng cho Hoàng Thị D. Với hành vi trên có đủ căn cứ xác định bị cáo Hoàng Thị D đã phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Lạng Sơn truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo Hoàng Thị D gây ra là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, danh dự, uy tín của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực, nhận thức được hành vi đe dọa để cưỡng đoạt tài sản (tiền) của người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì bực tức nhất thời không suy nghĩ đúng đắn, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Thị D đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần này là lần đầu, số tiền chiếm đoạt được không nhiều và khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đang mang thai, hiện bị cáo lại đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi; ngoài ra, nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo cũng một phần do bị hại sống không trung thủy trong hôn nhân, không nghiêm túc trong quan hệ tình cảm nam nữ. Do vậy Hội đồng xét xử cho bị cáo Hoàng Thị D được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s, n khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về nhân thân: Xét thấy bị cáo Hoàng Thị D là người có nhân thân tốt, bản thân chưa có tiền án, tiền sự, chưa bị xử lý kỷ luật lần nào.

[7] Trên cơ sở xem xét, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Hoàng Thị D có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự; có nơi cư trú ổn định rõ ràng, nên không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, để bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ để giáo dục bị cáo và đảm bảo tính răn đe phòng ngừa chung.

[8] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Hoàng Thị D không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Trương Thế B không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

[11] Đối với chị Hứa Thị P chủ tài khoản ngân hàng Techcombank số 19035681364012 bị cáo Hoàng Thị D đã cung cấp tài khoản này và yêu cầu bị hại Trương Thế B chuyển tiền, xác định chị Hứa Thị P là bạn của bị cáo Hoàng Thị D. Ngày 17/4/2025 sau khi nhận được số tiền 6.000.000 đồng từ Trương Thế B, Hoàng Thị D đã nhắn tin cho chị Hứa Thị P nói số tiền đó do bạn của Hoàng Thị D chuyển nhầm, nên chị Hứa Thị P đã chuyển trả lại cho bị cáo Hoàng Thị D, chị Hứa Thị P không biết nguồn gốc số tiền đó do Hoàng Thị D phạm tội mà có, nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

[12] Đối với chủ tài khoản số 19035681364012 ngân hàng Vietcombank tên là Vũ Tích C, quá trình điều tra xác định ngày 17/4/2025 Hoàng Thị D tự chuyển số tiền 2.000 đồng từ tài khoản 336366368888 ngân hàng MB Bank của bị cáo đến tài khoản của Vũ Tích C, Vũ Tích C không biết nguồn gốc số tiền trên và bị cáo Hoàng Thị D không yêu cầu lấy lại, nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

[13] Đối với chiếc điện thoại Hoàng Thị D sử dụng để đăng nhập tài khoản Facebook “Kieu Vy” Hoàng Thị D khai đã bán cho một cửa hàng điện thoại không rõ địa chỉ, cơ quan điều tra không thu thập được, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[14] Về án phí: Bị cáo Hoàng Thị D là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[15] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 170; điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 293; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị D phạm tội Cưỡng đoạt tài sản.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Hoàng Thị D 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (16/12/2025).

Giao bị cáo Hoàng Thị D cho Uỷ ban nhân dân phường Kỳ Lừa, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Gia đình bị cáo Hoàng Thị D có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Kỳ Lừa, tỉnh Lạng Sơn trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Hoàng Thị D cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Hoàng Thị D.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Thị D phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ