- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ma Công V phạm tội giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ PHÚC THẨM TANDTC TẠI HÀ NỘI _________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 96/2025/HS-PT Ngày: 08/8/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Thành Quang;
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Văn Nam;
Ông Nguyễn Nam Thành.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Nhạn - Thư ký viên.
Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Khúc Thị Hoàng Hạnh - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 08/8/2025, tại điểm cầu Trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội và điểm cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang, mở phiên tòa công khai, trực tuyến xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 745/2025/TLPT-HS ngày 05/6/2025 đối với bị cáo Ma Công V do có kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2025/HS-ST ngày 23/4/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
- Bị cáo MA CÔNG V, sinh ngày 24/8/1981, tại tỉnh Tuyên Quang; Nơi đăng ký HKTT, nơi ở: Thôn T, xã M, tỉnh Tuyên Quang (trước là xã M, huyện C, tỉnh Tuyên Quang); Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (Đình chỉ sinh hoạt đảng, theo Quyết định số: 110-QĐ/UBKTHU, ngày 16/9/2024 của Ủy ban kiểm tra Huyện uỷ C); Con ông Ma Công Ch (đã chết) và bà Ma Thị X, sinh năm 1960; Vợ là Lương Thị D, sinh năm 1982; Có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2024; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 30/10/2023, Công an xã M, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, xử phạt 350.000 đồng (Quyết định số: 16/QĐ-XLHC), về hành vi Gây rối trật tự công cộng (đã nộp phạt ngày 19/02/2024). Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/9/2024, bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang; có mặt tại điểm cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
- Người bào chữa cho bị cáo theo chỉ định của Tòa án: Luật sư Nguyễn Hữu T1, Công ty Luật Q, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Tuyên Quang; có mặt tại điểm cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Vũ Tuyên H, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn T, xã M, tỉnh Tuyên Quang (trước là xã M, huyện C, tỉnh Tuyên Quang); có mặt tại điểm cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 05/9/2024, Ma Công V đi uống rượu về nhà thì xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau với chị Lương Thị D (là vợ của V); do cháu Ma Thị Hồng H1 (con gái V) có lời nói bênh vực mẹ nên V cầm ấm pha trà bằng sứ và vung nồi bằng nhôm định ném cháu H1 nhưng chị D ngăn V lại. V cầm 01 đoạn củi bằng gỗ để đuổi, doạ đánh chị D và cháu H1; chị D cùng cháu H1 bỏ chạy ra ngoài cổng. Sau đó, chị D gọi điện thoại cho ông Trần Duy T là Trưởng thôn, Tổ trưởng lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở - Tổ trưởng Tổ hoà giải thôn T, xã M, huyện C đến giải quyết. Ông T gọi điện thoại báo cho Công an xã M; ông Lý Văn H3 - Phó Trưởng Công an xã nghe điện có yêu cầu Tổ bảo vệ An ninh trật tự thôn T đến nhà chị D để nắm bắt tình hình, ngăn chặn hành vi của V; ông T báo cho ông Vũ Văn C - Tổ phó Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, Tổ phó tổ hoà giải thôn và ông Tòng Càn T2 - Tổ viên lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, Thư ký tổ hoà giải thôn T, xã M, huyện C cùng đi đến nhà V.
Khoảng 14 giờ 30 phút, cùng ngày, Tổ công tác gồm ông T, ông C và ông T2 đến nhà V. Ông T và ông C đi vào trong nhà gặp V; ông C nói “Các chú phải nói thật là vợ cháu nó báo đến thôn bản, bảo các chú đến giải quyết vợ chồng cháu”. Cùng lúc này, ông T2 cũng vào trong nhà ngồi ở ghế cạnh V; V nói “Gọi vợ cháu về”. Ông T và ông C giải thích để hoà giải nhưng V không nghe, không muốn cho Tổ công tác hoà giải việc gia đình V. Lúc này, chị D từ ngoài hè đi vào trong nhà và nói “Cháu gọi đấy”, ông C nói “Đấy, ông T ông điều động chúng tao phải vào”, ông T nói “Chứ không phải tự nhiên các chú vào đâu, các chú không biết là cháu như nào mà chú vào”; chị D nói “Không làm gì cho cháu, vừa đi uống rượu về vừa đến nhà, bóp còi xong ông chửi mấy mẹ con, vào đây cầm dao, vác dao, đuổi hai mẹ con là sao, đây này đánh cháu đây thôi"; ông C nói “Thôi bây giờ cháu à, có mặt cháu ở nhà cháu cứ trình báo với ông Trưởng thôn kia”; chị D nói “Đánh cháu ù cả tai rồi” thì lúc này ông T có chuông điện thoại nên đứng dậy đi ra ngoài sân nhà để nghe điện thoại. V cầm túi quần áo của mẹ con chị D vứt ra ngoài và nói“Tao đốt cho xem, đây nhá, có cả Công an, tao đốt. Im. Đ.mẹ, riêng ở nhà tao tao làm được chứ”, “Chú ra ngoài”, rồi V nói nhiều câu đuổi thành viên Tổ công tác ra khỏi nhà V.
Ông T2 đi trước, ông C đi sau ra ngoài sân, vừa đi ông C vừa nói “mày đuổi thì chú ra”. V liền lấy ống điếu (làm bằng nứa) ở khu vực bàn uống nước, cầm bằng tay phải chạy theo, nhảy từ hiên nhà xuống sân, vung lên vụt từ trên xuống dưới vào phía người ông C, nhưng ông C tránh được, làm ống điếu bị tuột khỏi tay V rơi xuống đất; ông C nói “Được rồi, mày vác điếu mày đuổi chú nhá”; chị Dừa nói “Gọi công an luôn”; các thành viên Tổ công tác đã khống chế V và dùng 01 đoạn dây thừng màu trắng dài (dây của nhà V để ở góc nhà do chị Dừa đưa) trói tay V ra phía sau lưng. Sau khi trói V, ông T, ông C và ông T2 đi ra phía ngoài cổng nhà V, ông T gọi điện thoại báo Công an xã. Cùng lúc này, V cởi được trói, chạy vào trong bếp lấy 02 con dao bằng kim loại, mỗi tay cầm 01 dao, trong đó: tay phải cầm dao nhọn, chuôi bằng gỗ (loại dao bầu), có tổng chiều dài 31,5cm, phần bản và lưỡi dao bằng kim loại dài 20,5cm; tay trái cầm 01 con dao (loại dao tư), có tổng chiều dài 40,5cm, lưỡi bằng kim loại dài 25cm, chỗ rộng nhất bản dao là 05cm chạy ra sân để đuổi chém thành viên Tổ công tác. Nhìn thấy V cầm dao chạy ra, ông T, ông C và ông T2 bỏ chạy, V đuổi theo. Trong khi chạy ông C bị vấp ngã xuống nền đất (cách chỗ V bị trói khoảng 28m), rồi lại vùng dậy để chạy tiếp được khoảng 03 đến 04 mét thì V đuổi kịp; V 02 tay cầm 02 dao đâm, chém liên tiếp nhiều nhát về phía ông C nhưng không trúng. Ông C tiếp tục bỏ chạy ra phía ngoài đường thì V đuổi kịp và nói “Chết luôn”. Ông C quay người lại dùng chân đá vào tay trái cầm dao tư của V, làm dao rơi xuống đất; V tay phải cầm dao nhọn (loại dao bầu) đâm liên tiếp nhiều nhát theo hướng từ phải qua trái, từ dưới lên trên từ trước ra sau về phía người ông C, trong đó có 03 nhát trúng người ông C, gây thương tích nặng, chảy nhiều máu (01 nhát trúng 1/3 giữa ngoài cẳng tay trái, 01 nhát trúng vào mu bàn tay trái và 01 nhát trúng vào 1/3 giữa trong đùi phải), rồi V lao vào ôm, vật nhau với ông C làm cả hai lăn xuống bờ ao nhà V. Quá trình vật nhau với ông C, V làm rơi con dao đang cầm ở tay xuống khu vực mép bờ ao. Ông C hô lên “Các ông ơi, ông T ơi, nó giết tôi rồi ... ông T ơi, nó đâm tôi chết rồi ...”. Ông T và ông T2 chạy quay lại, đến ôm kéo V ra khỏi ông C thì V lội qua ao đi lên đường về nhà tắm, còn ông T và anh T2 đưa ông C lên xe mô tô chở đến Trạm y tế xã M, huyện C cấp cứu nhưng do thương tích nặng ông C đã chết trên đường đi cấp cứu. Khoảng 20 phút sau, lực lượng Công an xã đến và đưa V về trụ sở Ủy ban nhân dân xã M, huyện C để làm việc.
Tại Kết luận giám định tử thi số: 1174/KL-KTHS, ngày 23/9/2024, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang đối với tử thi Vũ Văn C, kết luận: Kết quả khám nghiệm: Vùng mặt, hai tay, chân phải có các vết bầm tím, sây sát mất da và các vết thương rách da. Vết thương thấu đùi phải: 1/3 giữa trong đùi phải có vết thương nằm dọc, bờ vết thương sắc gọn; đầu dưới vết thương tạo thành góc tù, đầu trên vết thương tạo thành góc nhọn; hướng vết thương chếch chéo từ trên xuống dưới, từ trước ra sau, từ trái sang phải; vết thương sâu đến sát trên 1/3 giữa xương đùi và tạo thành dãnh thương sâu 08cm; vết thương làm đứt rời động mạch đùi phải, vết đứt vát chéo, sắc gọn. Nguyên nhân chết: Mất máu cấp do vết thương đùi phải, đứt động mạch đùi phải.
Trong quá trình điều tra, anh Vũ Tuyên H (người đại diện của bị hại) yêu cầu Ma Công V bồi thường tiền chi phí mai táng và tổn thất về tinh thần với tổng số tiền là 323.424.000 đồng (Ba trăm hai mươi ba triệu bốn trăm hai mươi bốn nghìn đồng). Ngày 08/3/2024, chị Lương Thị D (vợ bị cáo V) đã bồi thường cho gia đình bị hại Vũ Văn C 10.000.000 đồng; ngày 17/3/2025 anh Ma Công T3 (em trai bị cáo V) đã nộp thay Ma Công V 20.000.000 đồng vào Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang để bồi thường cho bị hại.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2025/HSST ngày 23/4/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã áp dụng điểm d, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ma Công V 19 (Mười chín) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 05/9/2024.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 05/05/2025, người đại diện của bị hại là anh Vũ Tuyên H có đơn kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Ma Công V lên tù chung thân hoặc tử hình.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện của bị hại giữ yêu cầu kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt cao nhất đối với bị cáo, với lý do bị cáo đã tấn công bị hại một cách quyết liệt, côn đồ, cố tình phạm tội đến cùng; khoản tiền 30.000.000 đồng mà gia đình bị cáo đã bồi thường không thể bù đắp nỗi đau mất người thân; sau khi xét xử sơ thẩm thì gia đình bị cáo không bồi thường gì thêm.
- Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo: Bị cáo Ma Công V có nhiều tình tiết giảm nhẹ (bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường một phần thiệt hại, có thời gian phục vụ trong quân đội - đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự); mức án 19 năm 6 tháng tù đối với bị cáo là phù hợp, đủ để răn đe, phòng ngừa, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo.
- Quan điểm của đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội: Kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại trong thời hạn luật định, hợp lệ, đủ điều kiện được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Về tội danh và điều luật áp dụng, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo phạm tội “Giết người” thuộc trường hợp “Giết người vì lý do công vụ của nạn nhân” và “Có tính chất côn đồ” quy định tại các điểm d, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng. Bị cáo thành khẩn khai báo, đã tác động gia đình để bồi thường một phần thiệt hại, có thời gian tham gia quân ngũ, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ và cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là phù hợp. Về mức hình phạt, thấy rằng hành vi tấn công của bị cáo thể hiện sự quyết liệt, sử dụng nhiều hung khí nguy hiểm để tấn công, bất chấp pháp luật trong khi bị hại đang thi hành công vụ. Mức hình phạt 19 năm 6 tháng tù đối với Ma Công V là có phần nhẹ, có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của người đại diện bị hại, tăng mức hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Sau khi xét xử sơ thẩm, người đại diện của bị hại là anh Vũ Tuyên H có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Xét kháng cáo của người đại diện của bị hại, thấy rằng về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo Ma Công V, căn cứ vào lời khai của bị cáo, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, các vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 05/9/2024, sau khi đi uống rượu về, Ma Công V đã có hành vi chửi, đánh và đuổi chị Lương Thị D (vợ V) cùng cháu Ma Thị Hồng H1 (con gái V) ra khỏi nhà. Chị D gọi điện thoại báo cho ông Trần Duy T - Trưởng thôn, Tổ trưởng Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, Tổ trưởng Tổ hoà giải thôn T, xã M đến giải quyết; Ông T báo Công an xã và gọi cho ông Vũ Văn C - Tổ phó Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự, Tổ phó Tổ hoà giải của thôn, anh Tòng Càn T2 - Tổ viên Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự của thôn, Thư ký Tổ hoà giải của thôn cùng đến nhà V để xem xét, hoà giải. Quá trình tổ công tác thực hiện nhiệm vụ, V đã thực hiện hành vi đuổi đánh các thành viên Tổ công tác và bị Tổ công tác khống chế, trói tay ra phía sau lưng. V tự cởi trói, vào bếp lấy 02 con dao bằng kim loại (01 dao loại dao bầu dài 31,5cm; 01 dao tư dài 40,5 cm), mỗi tay cầm một dao đuổi chém thành viên Tổ công tác. Trong khi chạy, ông Vũ Văn C bị V đuổi kịp, 02 tay cầm 02 dao đâm, chém liên tiếp nhiều nhát về phía ông C nhưng không trúng. Ông C tiếp tục bỏ chạy và dùng chân đá vào tay trái cầm dao tư của V làm dao rơi xuống đất; V dùng tay phải cầm dao nhọn (loại dao bầu) đâm liên tiếp nhiều nhát theo hướng từ phải qua trái, từ dưới lên trên, từ trước ra sau về phía người ông C, trong đó có 03 nhát trúng người ông C (02 nhát trúng vào tay bên trái, 01 nhát trúng vào đùi bên chân phải) gây thương tích nặng, chảy nhiều máu. Ông C bị chết trên đường đi cấp cứu do đứt động mạch đùi phải, mất máu cấp. Như vậy, từ việc bị hại Vũ Văn C đến giải quyết, hòa giải mâu thuẫn giữa V và vợ của bị cáo, bị cáo Ma Công V đã dùng dao tấn công quyết liệt, thể hiện thái độ hung hãn, côn đồ và đã tước đoạt mạng sống của ông Vũ Văn C. Tòa án cấp sơ thẩm xác định Ma Công V phạm tội “Giết người” thuộc trường hợp “Giết người vì lý do công vụ của nạn nhân” và “Có tính chất côn đồ” quy định tại điểm d, n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự là đúng đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy, sau khi phạm tội, bị cáo Ma Công V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Tòa án cấp sơ thẩm cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là phù hợp. Cùng với việc thành khẩn khai báo, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho đại diện bị hại 30.000.000 đồng để khắc phục một phần hậu quả trong điều kiện gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có cơ sở. Bên cạnh đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc việc bị cáo V có thời gian tham gia nghĩa vụ Quân sự, được tặng Giấy khen vì đã có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ và áp dụng 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là đúng, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về mức hình phạt, xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, thể hiện tính chất côn đồ, giết người vì lý do công vụ của nạn nhân, là 2 tình tiết định khung tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu (đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng), thực hiện tội phạm một cách quyết liệt tước đoạt tính mạng của bị hại. Mức hình phạt 19 năm 6 tháng tù đối với bị cáo Ma Công V là có phần nhẹ; bởi vậy, có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của người đại diện bị hại, cần áp dụng mức hình phạt tù không thời hạn đối với bị cáo để giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung.
Về án phí, căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội "Quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án", người đại diện của bị hại không phải nộp án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của người đại diện của bị hại là anh Vũ Tuyên H, sửa quyết định của Bản án sơ thẩm số 17/2025/HS-ST ngày 23/4/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang về hình phạt đối với bị cáo Ma Công V như sau:
Áp dụng điểm d, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 39 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ma Công V tù Chung thân về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 05/9/2024.
2. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: -Viện Công tố và KSXXPT tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - TAND tỉnh Tuyên Quang; - Công an tỉnh Tuyên Quang; - Trại tạm giam CA tỉnh Tuyên Quang; - THADS tỉnh Tuyên Quang; - Người đại diện của bị hại (theo đ/c); - Bị cáo (qua Trại giam); - Lưu Phòng HCTP, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Chu Thành Quang |