vanban.org

Bản án 96/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Kim A. Chị Lê Thị Kim A được ly hôn với anh Trịnh Văn V.

Về con chung: Giao con chung Trịnh Văn K, sinh ngày 22/12/2022 cho chị Lê Thị Kim A được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Trịnh Văn K đủ 18 tuổi hoặc đến khi có thay đổi khác, quyết định khác. Ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung của anh Trịnh Văn V. Anh V có nghĩ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Kim A - Trịnh Văn V"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Kim A. Chị Lê Thị Kim A được ly hôn với anh Trịnh Văn V.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƯƠNG MỸ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 14/03/2025
V/v: Tranh chấp hôn nhân và
gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hiểu.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hà;

Bà Nguyễn Thị Luận.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đắc Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Cù Ngô Ngọc Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 587/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Kim A, sinh năm 1999.

Đăng ký thường trú tại: Thôn Đồng Trữ, xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Có mặt

Nơi cư trú: Thôn Và, xã Tốt Động, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.

- Bị đơn: Anh Trịnh Văn V, sinh năm 2001.

Đăng ký thường trú và cư trú tại: Thôn Đồng Trữ, xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Trong Đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Lê Thị Kim A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ngày 12 tháng 7 năm 2022, chị Lê Thị Kim A có đăng ký kết hôn với anh Trịnh Văn V trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội (ĐKKH số 51/2022). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau tại địa chỉ: Thôn Đồng Trữ, xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau một thời gian chung sống chị Kim A nhận ra cuộc sống vợ chồng gặp rất nhiều mâu thuẫn không hợp nhau. Anh V không có trách nhiệm với gia đình không cùng chăm sóc con, không chu cấp đầy đủ nuôi con chung. Ngày 13/9/2024, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau anh V tát chị và đuổi chị ra khỏi nhà, giữ con chung lại. Chị Kim A đã phải về ở nhà bố mẹ tại Thôn Và, xã Tốt Động, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội từ ngày 13/9/2024, vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Chị Kim A thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, chị xác định không còn tình cảm với anh V nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trịnh Văn V. Hiện tại, chị Kim A đang ở trên nhà, đất của bố mẹ chị, chị hiện làm việc tại Công ty TNHH Toyo Electric Company Việt Nam với mức thu nhập trung bình hơn 6.000.000 đồng/tháng.

Về con chung: chị Lê Thị Kim A và anh Trịnh Văn V có 01 con chung là Trịnh Văn K, sinh ngày 22/12/2022. Hiện, cháu K đang ở cùng anh V do anh V giữ con không cho chị trực tiếp chăm sóc, chị đề nghị Tòa án giao con chung cháu K cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chị Kim A không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công sức chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có.

2. Bị đơn anh Trịnh Văn V trình bày:

Ngày 12 tháng 7 năm 2022, anh Trịnh văn V đăng ký kết hôn với chị Lê Thị Kim A trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại địa chỉ: Thôn Đồng Trữ, xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc sau đó xảy ra mâu thuẫn do không có không cùng chung quan điểm sống. Chị Kim A có hỗn láo với bố mẹ chồng nên anh V có đánh chị 01 cái tát và chị Anh bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống tại: Thôn Và, xã Tốt Động, huyện Chương Mỹ từ tháng 9 năm 2024 cho đến nay, vợ chồng sống ly thân. Anh V xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên đề nghị Tòa án hòa giải cho vợ chồng đoàn tụ để nuôi dạy con chung.

Về con chung: anh Trịnh Văn V và chị Lê Thị Kim A có 01 con chung là Trịnh Văn K, sinh ngày 22/12/2022. Anh V đề nghị Tòa án giải quyết giao con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu chị Kim A cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công sức chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có.

Tòa án đã tiến hành xác Minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân của chị chị Lê Thị Kim A và anh Trịnh Văn V, đại diện chính quyền địa phương xác định, trong quá trình chung sống chị Lê Thị Kim A và anh Trịnh Văn V có mâu thuẫn vợ chồng. Hiện tại, anh V vẫn đăng ký thường trú tại địa chỉ Đội 14, Thôn 5, xã Quảng Bị, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội, chị Kim A đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Thị Kim A vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, chị Kim A xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, chị không còn tình cảm với anh V nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trịnh Văn V. Về con chung, chị Kim A đề nghị Tòa án giao con chung cháu K cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Nếu anh V được trực tiếp nuôi dưỡng con chung chị cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000 đồng/01 tháng. Bị đơn anh Trịnh Văn V tại phiên tòa đồng ý việc ly hôn. Anh V vẫn giữ yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Nếu chị Kim A được trực tiếp nuôi dưỡng con chung anh V cấp dưỡng nuôi con chung là 4.000.000 đồng/01 tháng, chị Kim A đồng ý với mức cấp dưỡng trên.

3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ trình bày quan điểm:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ, theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào ý kiến, quan điểm, Bản tự khai, Đơn đề nghị của nguyên đơn, Các Biên bản xác minh tại địa phương. Đề nghị Hội đồng xét xử, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và xử cho chị Lê Thị Kim A được ly hôn anh Trịnh Văn V.

Về con chung: chị Lê Thị Kim A và anh Trịnh Văn V có 01 con chung là Trịnh Văn K, sinh ngày 22/12/2022, hiện con chung đang ở cùng anh V. Do con chung hiện đang dưới 36 tháng tuổi nên đề nghị giao con chung cho chị Lê Thị Kim A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Việc cấp dưỡng nuôi con chung đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thống nhất giữa chị Kim A với anh V về việc anh V cấp dưỡng nuôi con chung 4.000.000 đồng/ 01 tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

Về tài sản chung, công sức, nợ chung: Không xem xét.

Về án phí: Chị Lê Thị Kim A, anh Trịnh Văn V phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Lê Thị Kim A có Đơn khởi kiện đối với anh Trịnh Văn V về việc xin ly hôn nên xác định đây là vụ án Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Trịnh Văn V cư trú tại Thôn Đồng Trữ, xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội nên Tòa án Nhân dân huyện Chương Mỹ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Kim A và anh Trịnh Văn V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội năm 2022 nên hôn nhân giữa chị Kim A và anh V là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi về chung sống, cuộc sống vợ chồng gặp rất nhiều điểm khác biệt về quan điểm sống, phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Khi mâu thuẫn vợ chồng xảy anh V có đánh chị Kim A, chị Kim A về nhà bố mẹ để sinh sống nhưng không được mang theo con nhỏ do anh V giữ lại. Hiện nay, vợ chồng không chung sống cùng nhau. Anh Trịnh Văn V có ý kiến đề nghị hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng không đưa ra được giải pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tại phiên tòa, anh V đồng ý việc ly hôn. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Kim A và anh V đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Kim A là phù hợp với quy định của pháp luật để cả hai ổn định cuộc sống.

2.2. Về con chung: chị Lê Thị Kim A và anh Trịnh Văn V có 01 con chung Trịnh Văn K, sinh ngày 22/12/2022 (26 tháng tuổi). Chị Kim A trình bày chị bị duổi khỏi nhà chồng mà không được mang theo con để chăm sóc, hiện con chung đang ở cùng anh V. Hội đồng xét xử xét thấy, con chung Trịnh Văn K còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi, chị Kim A có nơi cư trú, công việc, thu nhập ổn định nên căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao con chung là Trịnh Văn K, sinh ngày 22/12/2022 cho chị Kim A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, tạo điều kiện phát triển toàn diện cho cháu về tâm sinh lý, thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và mối quan hệ xã hội là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tại phiên tòa, anh V nêu ý kiến nếu chị Kim A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung anh V cấp dưỡng nuôi con chung 4.000.000 đồng/ 01 tháng, chị Kim A đồng ý. Vì vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến tự nguyện đóng góp tiền nuôi dưỡng, chăm sóc con chung của anh V 4.000.000 đồng/ 01 tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.

2.3. Về tài sản chung, công sức: Quá trình giải quyết vụ án các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án các đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2.4. Về án phí: Chị Lê Thị Kim A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, anh V phải chịu án phí về cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 234, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Kim A. Chị Lê Thị Kim A được ly hôn với anh Trịnh Văn V.

2. Về con chung: Giao con chung Trịnh Văn K, sinh ngày 22/12/2022 cho chị Lê Thị Kim A được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Trịnh Văn K đủ 18 tuổi hoặc đến khi có thay đổi khác, quyết định khác.

Ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung của anh Trịnh Văn V. Anh V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) trên một tháng kể từ ngày chị Kim A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung theo Bản án có hiệu lực pháp luật. Anh V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho đến khi con chung cháu Trịnh Văn K đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.

Anh Trịnh Văn V có quyền, nghĩa vụ được đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, công nợ chung, công sức chung: Không xem xét.

4. Về án phí: Chị Lê Thị Kim A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0062155 ngày 18/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Anh Trịnh Văn V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con chung.

5. Quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Kim A, anh Trịnh Văn V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ