vanban.org

Bản án 96/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Chi.

Về con chung: Giao cháu Trần An Ninh cho anh Trần Quốc Dựng tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra. Chị Nguyễn Thị C không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị C khởi kiện ly hôn anh Trần Quốc D"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Chi.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 4 - CÀ MAU
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
——————————
———————————————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2025/HNGĐ-ST
Ngày 28 -8-2025
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Ngọc Yến

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Hà

Ông Nguyễn Hoài Phong

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Kim Thia là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4

- Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 28 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 97/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2025, về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1981; địa chỉ cư trú: Khóm C N, xã C N, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Trần Quốc Dựng, sinh năm 1981; địa chỉ cư trú: Kh Ng Q, xã C N, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện nguyên đơn chị Nguyễn Thị C trình bày:

Về hôn nhân: Chị C và anh D chung sống với nhau vào năm 2010, đến năm 2014 có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn C N, huyện C N (nay là Xã C N, tỉnh Cà Mau), thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng sau đó xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống chị C yêu cầu xin ly hôn với anh anh D.

Về con chung: Quá trình chung sống có 01 người con chung tên Trần An N, sinh năm 2011. Khi ly hôn nguyện vọng con ở với ai thì người đó nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng không đặt ra.

Về tài sản chung: Chị C xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: Chị C xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Trần Quốc D: Quá trình Toà án triệu tập anh D vắng mặt không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị C có đơn xin từ chối tham gia phiên tòa sơ thẩm và anh Trần Quốc D đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là đúng quy định pháp luật.

[2] Về hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của chị C thấy rằng, về nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc anh, chị bất đồng quan điểm sống. Tại đơn khởi kiện chị C xác định không thể chung sống được với anh Dựng. Điều đó chứng tỏ đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của chị C, cho chị Nguyễn Thị C được ly hôn với anh Trần Quốc D.

[3] Về con chung: Đối với cháu An N, sinh năm 2011 tại đơn ghi nguyện vọng của cháu là được sống với anh D. Do đó, cần giao cháu Trần An Ninh, sinh năm 2011 cho anh Trần Quốc D tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp, việc cấp dưỡng không đặt ra.

[4] Về tài sản chung: Chị C xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về nợ: Chị C xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị C phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28; Điều 35 và khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Chi. Cho chị Nguyễn Thị C được ly hôn với anh Trần Quốc D.

2. Về con chung: Giao cháu Trần An Ninh cho anh Trần Quốc Dựng tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra.

Chị Nguyễn Thị C không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị C phải chịu 300.000 đồng. Chị C đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0011933 ngày 24/7/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ D, được chuyển thu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị Nguyễn Thị C và anh Trần Quốc D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ