- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Văn Đ -Đặng Thị H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Trần Văn Đ được ly hôn với chị Đặng Thị H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| KHU VỰC 2 - TUYÊN QUANG Bản án số: 96/2025/HNGĐ-ST Ngày 08/9/2025 “Về việc tranh chấp hôn nhân gia đình giữa anh Trần Văn Đ và chị Đặng Thị H”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Cao Tiến
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tống Xuân Quyết
2. Bà Phan Thị Bích
- Thư ký phiên toà: Ông Lý Văn Huynh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 -Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Hứa Như Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 - Tuyên Quang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 61/2025/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 3 năm 2025 về việc Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 06 tháng 8 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 15/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1989;
* Bị đơn: Chị Đặng Thị H, sinh năm 1992;
Cùng địa chỉ: Thôn S, xã Ph, tỉnh Tuyên Quang (trước đây là thôn S, xã Ph, huyện H, tỉnh Tuyên Quang).
(Anh Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, chị H vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Trần Văn Đ trình bày: Về quan hệ hôn nhân, anh và chị Đặng Thị H có quan hệ hôn nhân hợp pháp, anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ph, huyện H, tỉnh Tuyên Quang (nay là xã Ph, tỉnh Tuyên Quang) theo giấy chứng nhận kết hôn số 45 ngày 11/5/2010. Sau khi kết hôn anh chị chung sống cùng nhau tại thôn S, xã Ph, huyện H, tỉnh Tuyên Quang (nay là thôn S, xã Ph, tỉnh Tuyên Quang). Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, hòa thuận, đến năm 2023 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, gia đình đã khuyên nhủ, hòa giải nhưng không thành, hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2023 đến nay, anh và chị H không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn đã đến mức căng thẳng, trầm trọng không thể đoàn tụ xây dựng gia đình hạnh phúc. Vì vậy anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Đặng Thị H theo quy định của pháp luật, chấm dứt tình trạng hôn nhân như hiện nay.
Về con chung: Anh và chị H có 01 con chung là cháu Trần Anh T, sinh ngày 29/5/2010, hiện cháu đang ở cùng anh; ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu và không yêu cầu chị Hương phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Anh xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần báo gọi chị Đặng Thị H đến để viết bản tự khai, tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị Đặng Thị H đều không có mặt. Tòa án đã tiến hành xác minh với ông Đỗ Bình T, trưởng thôn Soi Thành và ông Đặng Văn Thắng trưởng thôn Khâu Lình, xã Ph; xác minh đối với ông Đặng Xuân là bố đẻ của chị Đặng Thị H. Kết quả thể hiện, chị Đặng Thị H hiện nay có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Soi Thành, xã Ph, huyện H, tỉnh Tuyên Quang (nay là thôn S, xã Ph, tỉnh Tuyên Quang) nhưng hiện tại chị H đi làm ăn xa, không có mặt tại địa phương, chị H vẫn liên lạc về với gia đình. Anh Trần Văn Đ và chị Đặng Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ph theo đúng quy định pháp luật. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách, anh chị sống ly thân từ năm 2023 đến nay, không còn quan tâm gì đến nhau. Đại diện thôn và gia đình ông Đặng Xuân K đã nhận được đầy đủ các văn bản tố tụng, tài liệu của Tòa án và thông báo cho chị H biết, chị H đã biết việc anh Trần Văn Đ khởi kiện ly hôn, tuy nhiên do điều kiện hoàn cảnh hiện tại chị đang đi làm ăn xa, nên không thể về Tòa án giải quyết được, ý kiến của chị nhất trí ly hôn anh Đ, chị cũng đồng ý để cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Trần Anh T, sinh ngày 29/5/2010. Về tài sản, đất đai, vay nợ chung, chị H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đều đảm bảo đúng quy định; bị đơn không chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân, đề nghị xử cho anh Trần Văn Đ được ly hôn với chị Đặng Thị H.
Về con chung, đề nghị giao cháu Trần Anh T, sinh ngày 29/5/2010 cho anh Trần Văn Đ được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; chị Đặng Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở; các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn.
Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Các đương sự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét giải quyết.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị buộc anh Trần Văn Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và ý kiến của anh Trần Văn Đ, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn Đ và chị Đặng Thị H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ph, huyện H, tỉnh Tuyên Quang (nay là xã Ph, tỉnh Tuyên Quang) theo giấy chứng nhận kết hôn số 45 ngày 11/5/2010, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục, tập quán của địa phương. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa anh Đ và chị H là hợp pháp. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, hòa thuận, đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, anh chị đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay, không còn quan tâm chăm sóc gì đến nhau. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa anh Đ và chị H không có hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng căng thẳng, mục đích của hôn nhân không đạt được, không thể tồn tại một gia đình hạnh phúc và tiến bộ. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đ, xử cho anh Trần Văn Đ được ly hôn với chị Đặng Thị H.
Về con chung: Quá trình chung sống anh Đ và chị H có một con chung là cháu Trần Anh T, sinh ngày 29/5/2010; hiện tại cháu đang sinh sống cùng anh Đ. Tại biên bản lấy ý kiến con chung, cháu Trần Anh T có nguyện vọng muốn được ở cùng với anh Đ khi bố mẹ ly hôn. Do vậy để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển mọi mặt của cháu, xét thấy anh Đ có đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, do vậy giao cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng con chung là phù hợp, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở.
Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Anh Đ, chị H xác định không có, không đề nghị giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về việc vắng mặt của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án chị Đặng Thị H vắng mặt không có lý do, Tòa án đã tiến hành xác minh nơi cư trú và các mối quan hệ hôn nhân, quan hệ con chung, quan hệ tài sản, đất đai, vay nợ chung của anh Đ và chị H, cũng như đã tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng đảm bảo đúng với các quy định của pháp luật. Các thủ tục tống đạt, niêm yết văn bản tố tụng và xác minh của Tòa án đã thực hiện đầy đủ và đúng với các quy định của pháp luật về việc giải quyết vụ án trong trường hợp một bên đương sự vắng mặt. Tại phiên toà anh Trần Văn Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, do vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
Về án phí: Anh Trần Văn Đ phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; chị Đặng Thị H không phải nộp án phí.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn Đông.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Trần Văn Đ được ly hôn với chị Đặng Thị H.
Giấy chứng nhận kết hôn số 45 do Ủy ban nhân dân xã Ph cấp ngày 11 tháng 5 năm 2010 cho anh Trần Văn Đ và chị Đặng Thị H không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu pháp luật.
2. Về con chung: Giao cháu Trần Anh T, sinh ngày 29/5/2010 cho anh Trần Văn Đ được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; chị Đặng Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở; các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn.
3. Về án phí: Anh Trần Văn Đ phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 000003354467 ngày 20/3/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang (nộp theo hình thức trực tuyến trên Cổng dịch vụ công quốc gia); chị Đặng Thị H không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSNDKV2 - Tuyên Quang; - THADS tỉnh Tuyên Quang; - UBND xã Ph; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Phan Thị Bích - Dương Thị ninh | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Hoàng Cao Tiến HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Cao Tiến |