- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đăng Trung và đồng phạm - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 245 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đăng T, Nguyễn Việt Đ, Nguyễn Thu S và Đỗ Thị H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 96/2024/HSST Ngày: 26/11/2024 |
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Sơn Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Độ và bà Nguyễn Thị Chiều
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Tuân, Thẩm tra viên chính Toà án nhân dân huyện Đan Phượng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thuý Hà, Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 87/2024/HSST ngày 02 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2024/QĐXX ngày 13/11/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Đăng T, sinh năm 1989; Giới tính: Nam; ĐKHKTT và ở: Số 261, đường 419, tổ dân phố Đồng Cam, thị trấn Liên Quan, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội; Trình độ văn hoá: 09/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Đăng Hà, sinh năm 1964; Con bà: Nguyễn Thị Tâm, sinh năm 1965; Có vợ là Vũ Thị Hiền, sinh năm 1999; Có 01 con SN 2023.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân:
+ Ngày 28/7/2010 bị Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội Cướp giật tài sản;
+ Ngày 16/9/2010 bị Toà án thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xử phạt 38 tháng tù về tội Cướp giật tài sản. Tổng hợp với bản án số 640/2010/HSPT ngày 28/7/2010 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 56 tháng tù.
Danh chỉ bản số 331 lập ngày 31/5/2024 tại Công an thành phố Hà Nội.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 31/5/2024. Huỷ bỏ biện pháp tạm giam ngày 19/7/2024, hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên Toà.
2. Họ và tên: Nguyễn Việt Đ, sinh năm 1998; Giới tính: Nam; ĐKHKTT và ở: Xóm Đa Trên, Thôn Lại Thượng, xã Lại Thượng, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội; Trình độ văn hoá:12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Văn Hương, sinh năm 1972; Con bà: Vương Thị Vui, sinh năm 1972; Vợ con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không
Danh chỉ bản số 327 lập ngày 31/5/2024 tại Công an thành phố Hà Nội.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/05/2024. Huỷ bỏ biện pháp tạm giam từ ngày 19/7/2024; hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên Toà.
3. Họ và tên: Nguyễn Thu S, sinh năm 1993; Giới tính: Nữ; ĐKHKTT và ở: Số 48, phố Phượng Trì, thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Đăng Hà, sinh năm 1964; Con bà: Nguyễn Thị Tâm, sinh năm 1965; Có chồng là: Tạ Văn Đông (đã chết); Có 02 con, lớn SN 2013, nhỏ SN 2017.
Tiền án, tiền sự: Không
Danh chỉ bản số 289 lập ngày 05/6/2024 tại Công an thành phố Hà Nội.
Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên Toà.
4. Họ và tên: Đỗ Thị H, sinh năm 1998; Giới tính: Nam; ĐKHKTT và ở: Số 13/14/29 phố Phượng Trì, thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội; Trình độ văn hoá: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Đỗ Thọ Thịnh, sinh năm 1968; Con bà: Nguyễn Thị Tỵ, sinh năm 1968; Có chồng là: Nguyễn Văn Tiến, sinh năm 1997 (Đã chết).
Tiền án, tiền sự: Không
Danh chỉ bản số 266 lập ngày 03/6/2024 tại Công an thành phố Hà Nội.
Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên Toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thu S (sinh năm 1993; trú tại số nhà 48, phố Phượng Trì, thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội) và Đỗ Thị H (sinh năm 1998; trú tại số nhà 13/14/29 phố Phượng Trì, thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng) có mối quan hệ là bạn bè của nhau. Quá trình chơi với nhau, Hiền có vay của Trang tiền, sau khi vay tiền của Trang thì Hiền đã trả được 01 phần, số tiền còn lại là 3.750.000 đồng Hiền không trả nữa. Do đó, Trang nhiều lần gọi điện thoại, nhắn tin cho Hiền và Nguyễn Văn Tiến (sinh năm 1997; trú tại số nhà 13/14/29 phố Phượng Trì, thị trấn Phùng, Đan Phượng; là chồng Hiền) để đòi tiền.
Ngày 19/11/2023, Trang đăng bài lên Facebook với nội dung: “Check inb giup c nha 2 vck” và gắn với Facebook của Nguyễn Văn Tiến là “Phùng Tiến” vào bài đăng. Chiều ngày 19/11/2023, sau khi đọc được bài đăng trên Facebook, Tiến gọi điện thoại, chửi nhau với Trang, đồng thời hẹn Trang sáng ngày 20/11/2023 đến nhà Tiến để giải quyết mâu thuẫn. Tại thời điểm Tiến điện thoại cho Trang, ở bên cạnh Trang có Nguyễn Đăng T (sinh năm 1989; trú tại thôn Đồng Cam, xã Liên Quan, huyện Thạch Thất, Hà Nội; là anh trai Trang) và Nguyễn Việt Đ (sinh năm 1998; trú tại thôn Lại Thượng, xã Lại Thượng, huyện Thạch Thất, Hà Nội; là bạn trai Trang) nên Trung, Tiến biết việc Tiến điện thoại chửi Trang. Đến trưa ngày 20/11/2023, không thấy Trang đến nhà mình theo như đã hẹn, Tiến nhắn tin gọi điện thoại cho Trang. Nhận được tin nhắn của Tiến, do sợ bị đánh nên Trang nói với Trung; bảo Trung nói với Đức; hẹn buổi chiều cùng ngày sẽ đi gặp vợ chồng Tiến, Hiền ở khu vực phố Nguyễn Thái Học, thị trấn Phùng, giải quyết mâu thuẫn giữa hai bên.
Đến khoảng 16 giờ, ngày 20/11/2023, Trung điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota, biển kiểm soát 30E - 42113 chở Đức đi đến khu vực phố Nguyễn Thái Học. Đến nơi, Trung dừng xe ở ven đường Quốc lộ 32, bên trái phố Nguyễn Thái Học (theo hướng Hoài Đức – Sơn Tây) và cùng Đức ngồi trên xe đợi, còn Trang đi sang bên đường nói chuyện với Hiền. Khi Trang đang đứng nói chuyện với Hiền thì Tiến chạy đến, dùng tay trái đấm 01 phát vào ngực Trang làm Trang ngã ngửa về phía sau. Nhìn thấy Trang bị đánh, Trung và Đức mở cửa xe ô tô chạy về phía Tiến. Đến nơi, Trung dùng tay phải đấm vào vùng đầu của Tiến; Trang cũng lao vào giằng co với Tiến; Đức dùng chân đạp vào người làm Tiến ngã ra đường. Các bị cáo xô xát, cãi chửi đánh nhau khoảng hơn 06 phút thì dừng lại.
Sau khi tiếp nhận tố giác về tội phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đan Phượng đã tiến hành xác định hiện trường, thu thập dấu vết, tài liệu chứng cứ, trưng cầu giám định pháp y thương tích đối với Nguyễn Việt Đ, Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Thu S và Đỗ Thị H. Kết quả như sau:
Tại biên bản kiểm tra, xác định hiện trường nơi xảy ra vụ việc, hồi 18 giờ 20 phút ngày 20 tháng 11 năm 2023, do Công an thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng xác lập, thể hiện: “...Quá trình kiểm tra xác định nơi xảy ra vụ việc trên tại vỉa hè lòng đường 32 cũ trước cửa nhà 94 phố Nguyễn Thái Học, thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng, Hà Nội. Qua kiểm tra không phát hiện hay thu giữ đồ vật tài liệu gì”.
Vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 đoạn Video Clip thời lượng 06 phút 02 giây, ghi lại diễn biến việc các bên tham gia đánh nhau. Đối với các viên gạch Nguyễn Việt Đ, Nguyễn Văn Tiến và Đỗ Thị H sử dụng để tham gia đánh nhau, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thấy.
Tại bản Kết luận giám định số 2809/KL–KTHS ngày 19/4/2024 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an về đoạn Video Clip thu giữ, kết luận:“ …Không tìm thấy dấu vết cắt ghép chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 01 đoạn Video Clip thời lượng 06 phút 02 giây. Dịch nội dung âm thanh trong đoạn video thể hiện có cả giọng nam và giọng nữ liên tục phát ra các câu từ chửi tục, chửi thể như: “Mẹ mày, bố mày, đ.mẹ, đ.con mẹ mày...”.
Tại Giấy chứng nhận thương tích số 07/2024/CN ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Bệnh viện E - Hà Nội thể hiện thương tích của Nguyễn Văn Tiến, như sau: “…Bệnh nhân vào viện 18 giờ 37 phút và ra viện lúc 21 giờ 50 phút ngày 20 tháng 11 năm 2023. Lý do vào viện: Vết thương vùng đầu sau tai nạn bạo lực. Chẩn đoán: Theo dõi chấn thương sọ não, Glasgow 15 điểm. Hiện không có máu tụ nội sọ. Vết thương chẩm phải.... Tình trạng thương tích lúc vào viện: Bệnh nhân tỉnh, Glasgow 15 điểm, đồng từ 2 bên đều, PXAS (+), vùng đỉnh phải có 1 vết thương kích thương ~ 1,5 cm, bờ nham nhở, đáy sâu, cổ mềm, ngực vững, bụng mềm, xây sắt da tay 2 bên. Thương tích lúc ra viện: Bệnh nhân tỉnh, Glasgow 15 điểm, đồng từ 2 bên đều, PXAS (+), vết thương vùng đỉnh phải đã khâu, cổ mềm, ngực vững, bụng mềm, xây sát da tay 2 bên…”.
Tại biên bản làm việc hồi 18 giờ 00 phút ngày 20/11/ 2023 tại Phòng khám Đa khoa Bạch Mai địa chỉ thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng, Hà Nội về thương tích của chị Nguyễn Thu S do Công an thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng xác lập, thể hiện: “ ...Không có tổn thương trong não. Rửa vết thương rách da đầu vùng sau mang tai bên trái, hình tam giác, sâu, chảy máu nhiều... khâu 4 mũi...”
Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra có nhận được Văn bản số 125/CV-UBND ngày 21/11/2021 của Ủy ban nhân dân thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng với nội dung: “...02 nhóm đối tượng đã có hành vi sử dụng gạch đánh nhau, hò hét, chửi bới... gây hỗn loạn, ùn tắc giao thông và mất an ninh trật tự tại tuyến đường, phố, đề nghị Công an huyện Đan Phượng tiến hành điều tra, xử lý nghiêm theo quy định Pháp luật nhằm răn đe các đối tượng và đảm bảo ổn định tình hình an ninh trật tự trên địa bàn thị trấn”
Tại Cơ quan điều tra các bị cáo Nguyễn Đăng T, Nguyễn Việt Đ, Nguyễn Thu S và Đỗ Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Quá trình điều tra vụ án Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Việt Đ, Nguyễn Thu S và Đỗ Thị H đã từ chối giám định thương tích; không có yêu cầu bồi thường dân sự.
Đối với Nguyễn Văn Tiến, ngày 18/5/2024 đã chết nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Tại Bản cáo trạng số 84/CT-VKS ngày 22/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Đăng T, Nguyễn Việt Đ, Nguyễn Thu S và Đỗ Thị H về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, TP Hà Nội sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, nhân thân của các bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 318 BLHS, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Nguyễn Đăng T từ 27 – 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54 đến 60 tháng.
+ Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 318 BLHS, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Nguyễn Việt Đ, Nguyễn Thu S, Đỗ Thị H từ 24 – 27 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 – 54 tháng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đan Phượng, TP Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, TP Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ xác định tội danh: Lời khai nhận tội của các tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người liên quan cùng vật chứng đã thu giữ, bản kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Xuất phát từ việc vay tiền nhưng chưa trả hết giữa Nguyễn Thu S với Đỗ Thị H, ngày 20/11/2023, Nguyễn Văn Tiến (là chồng Hiền) nhắn tin, gọi điện thoại hẹn Trang gặp nhau để giải quyết mâu thuẫn, Trang đồng ý. Trước khi đi đến nơi hẹn, Trang đã rủ anh trai mình là Nguyễn Đăng T; bạn trai là Nguyễn Việt Đ đi cùng Trang gặp vợ chồng Tiến, Hiền. Khoảng 16 giờ cùng ngày, tại điểm hẹn ở khu vực trước cửa nhà số 94, phố Nguyễn Thái Học, thị trấn Phùng, Đan Phượng, Hà Nội khi Trang đang đứng nói chuyện với Hiền thì Tiến chạy đến, dùng tay trái đấm 01 phát vào ngực Trang làm Trang ngã ngửa về phía sau; sau đó các bị cáo cãi chửi nhau, xô xát, đánh nhau trong khoảng thời gian hơn 06 phút, gây náo loạn đường phố, cản trở giao thông, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. Hậu quả, Nguyễn Việt Đ bị xây xước ở mặt; Nguyễn Thu S bị rách vùng da đầu, sau mang tai bên trái, hình tam giác khâu 04 mũi; Nguyễn Văn Tiến bị rách da vùng đỉnh đầu khâu 03 mũi; Đỗ Thị H bị chảy máu tay.
Như vậy hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo về hành vi như trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Việt Đ, Nguyễn Thu S và Đỗ Thị H lần đầu phạm tội nên còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đánh giá tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, gây tâm lý lo lắng, bất bình trong nhân dân. Các bị cáo đánh nhau trên vỉa hè nơi người dân đang tham gia giao thông gây tai nạn giao thông cho người đi đường, gây thương tích cho chính các bị cáo và là nguyên nhân dẫn đến tội phạm khác. Vì vậy, cần phải có một mức án nghiêm khắc đối với các bị cáo, nhằm đảm bảo tính giáo dục và làm bài học ngăn ngừa chung.
Xét vai trò của các bị cáo: Xuất phát từ mâu thuẫn vay tiền của Hiền và Trang nên dẫn đến các bị cáo đánh chửi nhau. Trong vụ án các bị cáo không có sự bàn bạc trước, không có sự phân công, chuẩn bị vũ khí mà hành động của các bị cáo mang tính bộc phát, hiếu chiến nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự như nhau. Tuy nhiên, bị cáo Trung là người có nhân thân xấu, sau khi được giáo dục, cải tạo không tu dưỡng đạo đức để trở thành công dân tốt có ích cho xã hội nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn các bị cáo khác.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Các bị cáo không có tiền án tiền sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên Toà các bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo và có nơi cư trú rõ ràng, có các tình tiết giảm nhẹ như đã viện dẫn ở trên. Do đó, không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ cải tạo bị cáo thành công dân tốt, có ích cho xã hội, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật.
Xử lý vật chứng: không
Về dân sự: Các bị cáo không yêu cầu bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đăng T, Nguyễn Việt Đ, Nguyễn Thu S và Đỗ Thị H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”;
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự :
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng T 27 (hai mươi bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 54 (Năm mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân thị trấn Liên Quan, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội theo dõi, giám sát trong thời gian thử thách của Bản án. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự; trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc phải chấp hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự :
Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt Đ 24 (hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã Lại Thượng, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội theo dõi, giám sát trong thời gian thử thách của Bản án. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự; trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc phải chấp hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thu Trang 24 (hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án.
Xử phạt bị cáo Đỗ Thị H 24 (hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao các bị cáo Nguyễn Thu S, Đỗ Thị H cho Uỷ ban nhân dân thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội theo dõi, giám sát trong thời gian thử thách của Bản án. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự; trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc phải chấp hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về vật chứng: không
3. Về dân sự: Không
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Các bị cáo mỗi người phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Các bị cáo; - TT lý lịch-Sở Tư pháp Hà Nội; - VKSND h. Đan Phượng; - VKSND thành phố Hà Nội; - TAND thành phố Hà Nội; - Công an H. Đan Phượng; - Chi cục THADS H. Đan Phượng; - Lưu HS - VP THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ ZZ | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Sơn Hà THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |