vanban.org

Bản án 96/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 và Điều 266

Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 56, 59, 60, 81, 82, 83, 84, 107 và 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đoàn Thị Hồng N - Trần Văn H - LH"
  • Tòa quyết gì? 39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 và Điều 266
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 96/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20-12-2024
Về việc “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Vương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Châu;

2. Bà Nguyễn Thị Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Bé Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ,

tỉnh Long An.

Ngày 20 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ

thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 203/2024/HNGD-ST ngày 26

tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử

số: 92/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị Hồng N, sinh năm 1991; Địa chỉ: Ấp B, xã Đ,

huyện Đ, tỉnh Long An (Vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm 1991; Địa chỉ: Ấp V, xã M, huyện Đ,

tỉnh Long An (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 29-7-2024, các văn bản tiếp theo, nguyên đơn

bà Đoàn Thị Hồng N trình bày và yêu cầu: Bà và ông Trần Văn Hải đăng K kết hôn

tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An ngày 06-01-2015; C sống hạnh

phúc đến năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ

chồng thường cãi vã, mất hạnh phúc, hàn gắn không có kết quả.

Về hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn H;

Về nuôi con chung: Yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung tên Trần Bảo

N1, sinh ngày 17-02-2016 và Trần Bảo N2, sinh ngày 24-10-2018 (đang sống với bà), không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung;

Về chia tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

- Vụ án không hòa giải đoàn tụ được do bị đơn là ông Trần Văn H đã được

Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt;

- Ngày 11-11-2024, bà Đoàn Thị Hồng N có đơn xin giải quyết và xét xử vắng

mặt;

- Bị đơn là ông Trần Văn H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do,

nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Đoàn Thị Hồng N khởi kiện “Tranh chấp ly hôn” đối với ông Trần Văn

H; Tòa án nhân dân huyện Đ tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Bà N có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử vụ án theo quy định tại

khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Bị đơn là ông H được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án, nhưng

vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, nguyên đơn không có đơn rút yêu cầu khởi kiện, các đương

sự không thỏa thuận được với nhau việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.

Xét về hôn nhân:

Bà N và ông H chung sống có đăng ký kết hôn ngày 06-01-2015 tại Ủy

ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông H là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu ly hôn của bà N: Bà N cho rằng bà và ông H phát sinh mâu

thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường cãi vã, mất hạnh phúc. Tuy bà N không đưa ra tài liệu, chứng cứ chứng minh mâu thuẫn vợ chồng, nhưng xét từ khi xảy ra mâu thuẫn và ly thân cho đến nay, bà N và ông H không khắc phục được mâu thuẫn gia đình, bà N và ông H mỗi người vẫn tự lo cho bản thân, không quan tâm chăm sóc nhau; Ông H biết được việc bà N khởi kiện ly hôn nhưng vẫn không có ý kiến, không có mặt tham gia hòa giải đoàn tụ và vắng mặt tại phiên tòa, ông H không có ý chí đoàn tụ. Xét mâu thuẫn giữa bà N và ông H đã trầm trọng,

cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc bà N

yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại điều 56 Luật Hôn nhân và gia

đình nên chấp nhận. Ông H không có ý kiến nên không có căn cứ xem xét.

Xét về nuôi con chung:

Xét 02 con chung tên Trần Bảo N1, sinh ngày 17-02-2016 và Trần Bảo

N2, sinh ngày 24-10-2018, tuổi còn nhỏ, hiện đang sống với bà N, việc thay đổi môi

trường sống, học tập, sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về tâm lý, sinh lý

của con chung, bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung là có căn cứ, phù hợp

theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận. Ông H không

có ý kiến nên không có căn cứ xem xét.

Xét về cấp dưỡng nuôi con: Bà N không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi

con chung là tự nguyện, phù hợp quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình

nên ghi nhận. Ông H không có ý kiến nên không có căn cứ xem xét.

Ông H được quyền thăm nom, chăm sóc con chung; Khi cần thiết, vì lợi

ích của con chung, bà N và ông H được quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con

chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp theo quy định tại các Điều 83,

84, 107 và 110 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về chia tài sản chung: Bà N không có nên không đề cập. Ông H không có

ý kiến nên không có căn cứ xem xét. Nếu xảy ra tranh chấp, các đương sự được

quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo pháp luật tố tụng dân sự là phù hợp quy định

tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về chia nợ chung: Bà N trình bày không có nên không đề cập. Ông H

không có ý kiến nên không có căn cứ xem xét. Nếu xảy ra tranh chấp, các đương sự

được quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo pháp luật tố tụng dân sự là phù hợp quy

định tại Điều 60 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về án phí, căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xét thấy:

Bà N là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân

sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ

thẩm đã nộp, bà N đã nộp đủ án phí; Ông H không phải chịu tiền án phí dân sự sơ

thẩm;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều

39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 và Điều 266

Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 56, 59, 60, 81, 82, 83, 84, 107 và 110 Luật

Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Bà Đoàn Thị Hồng N được ly hôn với ông Trần Văn H.

2. Về nuôi con chung:

Bà Đoàn Thị Hồng N được trực tiếp nuôi 02 con chung tên Trần Bảo N1, sinh

ngày 17-02-2016 và Trần Bảo N2, sinh ngày 24-10-2018 (đang sống với bà N); Ông Trần Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông H được quyền thăm nom, chăm sóc con chung; Khi cần thiết, vì lợi ích

của con chung, bà N và ông H được quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

3. Về chia tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

4. Về án phí: Bà Đoàn Thị Hồng N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn

đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0004629 ngày 26-8-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, bà N đã nộp đủ án phí;

5. Các đương sự vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc

thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ