- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị Ngọc H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 96/2024/HNGĐ-ST Ngày: 08/8/2024. “V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Được;
Ông Huỳnh Văn Đương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Đầy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh: Ông Lý Phước Bền, Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 278/2024/TLST-HNGĐ, ngày 24 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2024/QĐXXST- HNGĐ, ngày 02 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 100/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 22 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ngọc H, sinh năm 1996. Địa chỉ: Ấp Gi, xã Hiệp Mỹ T, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Có mặt
- Bị đơn: Anh Ngô Minh T, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp Gi, xã Hiệp Mỹ T, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Vắng mặt không lý do
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc H trình bày:
- Về hôn nhân: Vào năm 2013, chị và anh Ngô Minh T qua thời gian quen biết và tìm hiểu khoảng 03 tháng thì tiến tới hôn nhân, có tiến hành lễ cưới theo phong tục tập quán. Sau khi cưới vợ chồng chị có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hiệp Mỹ T, huyện Cầu Ngang. Quá trình chung sống, đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh T thường xuyên nhậu nhẹt về đánh đập chị nhiều lần nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Trước đây vào tháng 11/2023, chị có làm đơn xin ly hôn với anh T nhưng anh T hứa sửa đổi nên chị rút đơn khởi kiện lại cho anh T cơ hội để sửa đổi nhưng sau đó anh T vẫn không thay đổi tính tình. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ngô Minh T.
- Về con chung tên: Ngô Thị Ngọc H, sinh ngày 05/5/2014 và Ngô Hoàng M, sinh ngày 26/11/2017, hiện tại chị đang nuôi dưỡng. Đối với Ngô Thị Ngọc H, theo nguyện vọng của con theo cha thì cha nuôi, theo mẹ thì mẹ nuôi dưỡng. Đối với Ngô Hoàng M, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, chị không cấp dưỡng và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị H không tranh chấp, không khởi kiện.
- Về số nợ phải thu, phải trả: Chị H không tranh chấp, không khởi kiện.Ngoài ra chị không yêu cầu gì khác.
Tại phiên hòa giải anh Ngô Minh T vắng mặt lần thứ hai không lý do nên không có lời trình bày.
Lời phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình thụ lý vụ án, xác định quan hệ tranh chấp, xác định người tham gia tố tụng, thành phần tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thành phần Hội đồng xét xử đều đúng quy định của pháp luật. Các văn bản tố tụng từ khi nhận đơn khởi kiện đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa đều được tống đạt đầy đủ cho các đương sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Lê Thị Ngọc H được ly hôn với anh Ngô Minh T. Về con chung tên Ngô Thị Ngọc H, sinh ngày 05/5/2014 và Ngô Hoàng M, sinh ngày 26/11/2017, hiện tại chị H đang nuôi dưỡng, chị H yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung. Cháu H có nguyện vọng được sống chung với chị H. Căn cứ vào Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị H được tiếp tục nuôi con chung tên Ngô Thị Ngọc H, sinh ngày 05/5/2014 và Ngô Hoàng M, sinh ngày 26/11/2017. Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và số nợ phải thu phải trả, chị H và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét .
- Về án phí: Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị Lê Thị Ngọc H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Phần kiến nghị: Không có
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Anh Ngô Minh T là bị đơn trong vụ án nhưng vắng mặt lần thứ hai không lý do. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định.
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị H khởi kiện yêu cầu ly hôn và tranh chấp về nuôi con với anh Ngô Minh T, địa chỉ: Ấp Gi, xã Hiệp Mỹ T, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Căn cứ vào Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang.
Về hôn nhân: Vào năm 2013, chị H và anh T xác lập hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hiệp Mỹ T, huyện Cầu Ngang. Từ đó xác định hôn nhân giữa chị H và anh T là hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay chị H trình bày: Nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng chị là do anh T thường xuyên nhậu nhẹt về đánh đập chị nhiều lần. Trước đây vào tháng 11/2023, chị có làm đơn xin ly hôn với anh T nhưng anh T hứa sửa đổi nên chị rút đơn khởi kiện lại cho anh T cơ hội để sửa đổi nhưng sau đó anh T vẫn không thay đổi tính tình nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 11/2023 cho đến nay, vợ chồng không quan tâm, chăm sóc nhau. Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị cương quyết xin ly hôn với anh Ngô Minh T.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Ngô Minh T trình bày: Nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng anh là do anh thường xuyên nhậu nhẹt, không lo cho vợ, con nên vợ đã bỏ nhà đi khoảng 01 tháng nay. Nay vợ yêu cầu ly hôn thì anh không đồng ly hôn do còn thương vợ, thương con.
Xét thấy trong quá trình chung sống, giữa chị H và anh T có xảy ra mâu thuẫn về lối sống. Chị H trình bày vợ chồng chị đã sống ly thân từ tháng 11/2023 cho đến nay, vợ chồng không quan tâm, chăm sóc nhau. Tại phiên tòa, chị H xác định chị không còn tình cảm với anh T, chị cương quyết xin ly hôn với anh T. Quá trình giải quyết vụ án, anh T không đồng ý ly hôn. Tòa án đã tạo cơ hội cho anh, chị hàn gắn nhưng không có kết quả, các lần hòa giải và tại phiên tòa anh T đều vắng mặt không lý do. Từ đó xét thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị H, về hôn nhân xử cho chị H được ly hôn với anh Ngô Minh T.
Về nuôi con: Chị H và anh T có hai con chung tên Ngô Thị Ngọc Hoa, sinh ngày 05/5/2014 và Ngô Hoàng Mỹ, sinh ngày 26/11/2017 hiện tại chị H đang nuôi dưỡng. Chị yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung. Quá trình giải quyết, anh T yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy thời gian chị H và anh T sống ly thân, chị H là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai con chung, đảm bảo sự phát triển của con và cháu H có nguyện vọng sống chung với chị H. Căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị H được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Ngô Thị Ngọc H, sinh ngày 05/5/2014 và Ngô Hoàng M, sinh ngày 26/11/2017.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H và anh T không khởi kiện, không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ phải thu, phải trả của vợ chồng: Chị H và anh T không khởi kiện, không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc chị H phải chịu án phí theo quy định.
Xét quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 228, 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị Ngọc H.
- Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Ngọc H được ly hôn với anh Ngô Minh T.
- Về nuôi con: Chị Lê Thị Ngọc H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Ngô Thị Ngọc H, sinh ngày 05/5/2014 và Ngô Hoàng M, sinh ngày 26/11/2017 khi ly hôn.
Anh Ngô Minh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trỡ người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H và anh T không khởi kiện, không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung của vợ chồng: Chị H và anh T không khởi kiện, không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về số nợ phải thu, phải trả của vợ chồng: Chị H và anh T không khởi kiện, không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Lê Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003707, ngày 20 tháng 5 năm 2024 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang thu. Chị H đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Ngọc H có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Ngô Minh T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện Cầu Ngang; - CCTHADS huyện Cầu Ngang; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Phương Hà |