vanban.org

Bản án 96/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 25/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Trương Thành L và Trương Văn M phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Thành L và Trương Văn M - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Trương Thành L và Trương Văn M phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2023/HS-ST
Ngày 25-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thành Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tống Văn Tâm;

2. Bà Huỳnh Anh Thư.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Ái - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 81/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2023 đối với các bị cáo:

1/ Trương Thành L, sinh năm 1993 tại: Bình Dương; thường trú: Tổ 2, khu phố Ô, phường T, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Giáo viên dạy lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn M, sinh năm 1972 và bà Phạm Thị B, sinh năm 1972; vợ tên Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1993; bị cáo chưa có con; tiền án, tiền sự: không.

Ngày 26/10/2018, thực hiện hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản. Đến ngày 08/6/2022 bị khởi tố vụ án, khởi tố bị can; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/6/2022 đến ngày 20/8/2022 được trả tự do và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt.

2/ Trương Văn M, sinh năm 1985 tại: Bình Dương; thường trú: Tổ 2, khu phố Ô, phường T, thị xã Tân Uyên, tỉnh Binh Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn Đ, sinh năm 1930 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1943; vợ tên Nguyễn Thị Mỹ C, sinh năm 1985; có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân:

- Ngày 10/3/2014, bị Công an thị trấn (nay là phường) Uyên Hưng, huyện (nay là thành phố) Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc với số tiền 1.500.000 đồng.

- Ngày 20/5/2017, bị Công an phường Uyên Hưng, thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc với số tiền 1.500.000 đồng.

Ngày 26/10/2018, thực hiện hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản. Đến ngày 08/6/2022 bị khởi tố vụ án, khởi tố bị can; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/6/2022 đến ngày 20/8/2022 được trả tự do và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt.

Bị hại: Ông Lương Quốc T, sinh năm 1983; thường trú: Tổ 3, khu phố K, phường K, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1983; thường trú: Tổ 2, khu phố Ô, phường T, thành phố Tân Uyên, tỉnh Binh Dương, có mặt.

Người làm chứng:

- Ông Lương Văn T, ông Lương Chí C, ông Lê Huỳnh Đ: vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Các bị cáo Trương Văn M và Trương Thành L có mối quan hệ là chú cháu. Bị cáo Trương Thành L là tài xế lái xe cho Công ty TNHH T. Bị hại Lương Quốc T là người đang thi công, công trình xây dựng tại Công ty TNHH T.

Khoảng cuối tháng 8 năm 2018, Bị cáo L biết công ty TNHH T có nhu cầu mở rộng sản xuất, cần thuê nhà xưởng có diện tích khoảng 5.000m2 tại địa bàn phường T, phường K nên bị cáo L gọi điện thoại cho ông Phạm Văn H nhờ ông H tìm nhà xưởng để cùng bị cáo giới thiệu cho thuê nhằm hưởng tiền hoa hồng thì ông H đồng ý. Sau đó, ông H gọi điện thoại cho ông Nguyễn Thanh T để hỏi thì ông T nói ông Lương Quốc T có nhà xưởng cần cho thuê tại khu phố Khánh Tân, phường Khánh Bình. Khoảng 02 ngày sau, ông T và ông H dẫn đại diện công ty TNHH T đến xem xưởng của ông T và ký hợp đồng thuê. Tuy nhiên, do chưa nhận được tiền cho thuê xưởng nên ông T chưa cho ông T và ông H tiền hoa hồng.

Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 26/10/2018, sau khi đi giao hàng về đến Công ty TNHH T, bị cáo L ngồi nghỉ ngơi trước cổng Công ty để chờ đến ca 16 giờ 30 phút tiếp tục vào làm việc. Đến khoảng 16 giờ 25 phút cùng ngày, ông Lương Quốc T đi ra cổng để về. Khi thấy ông T, bị cáo L đến gặp và nói chuyện liên quan đến việc ông T chưa cho tiền hoa hồng giới thiệu cho thuê nhà xưởng thì giữa ông T và bị cáo xảy ra cự cãi qua lại với nhau, ông T dùng tay phải đấm vào gò má bên trái của bị cáo, bị cáo dùng tay đánh lại ông T, cả hai đánh nhau được vài cái thì dừng lại. Sau đó, ông T đi vào bên trong công ty T kêu người hỗ trợ còn bị cáo L gọi điện thoại cho bị cáo Trương Văn M hỏi bị cáo M đang ở đâu, lên công ty T để hỗ trợ bị cáo, bị cáo M nghe máy và đồng ý. Trong lúc bị cáo L đang gọi điện thoại thì ông T đi cùng với nhóm công nhân của ông T (khoảng 05 người) từ Công ty TNHH T ra, trên tay có cầm các ống kim loại vuông có sẵn tại công trình xây dựng. Thấy vậy, bị cáo L chạy đến đống ba lếch, phế liệu tìm đồ vật để phòng thân thì thấy 01 con dao tự chế (mã tấu) dài khoảng 60cm nên bị cáo L nhặt lên cầm trên tay. Lúc này, ông T gọi điện thoại cho em ruột của mình tên Lương Văn Th để nói việc ông T bị đánh tại công ty TNHH T. Ông Th khi đó đang đi làm cùng với 02 công nhân của ông T là Lương Chí C và Lê Huỳnh Đ nên ông T cùng với ông C và ông Đ cùng chạy xe bagác đến công ty TNHH T. Khi nhận điện thoại của bị cáo L, do bị cáo M đang câu cá ở gần đó cùng với bạn tên Nguyễn Văn H nên bị cáo M rủ ông H cùng đến công ty T thì ông H đồng ý. Bị cáo M và ông H mỗi người điều khiển một xe môtô chạy đến Công ty TNHH T. Khi đến công ty, bị cáo M nhặt 01 cây xẻng có cán bằng kim loại đang để gần phòng bảo vệ cổng, còn ông H nhặt 01 đoạn cây gỗ vuông dài khoảng 01 mét gần đó cầm trên tay nhằm hỗ trợ bị cáo L. Lúc này, ông T nói “Mày chạy không khỏi đâu, hôm nay tao nể công ty T nếu không mày chết với tao”, rồi ông T kêu ông Th, Đ và C đi về nên ông Th, C và Đ điều khiển xe bagác đi về. Sau đó, ông T cũng điều khiển xe ôtô hiệu Toyota Fortuner biển số 61A-391.46 chạy đi theo sau xe bagác để về nhà.

Khi thấy nhóm của ông T đi về, bị cáo L liền điều khiển xe môtô nhãn hiệu WAVE biển số 60F1- 590.99 và cầm trên tay 01 con dao (mã tấu) một mình đuổi theo nhằm chặn đánh nhóm người đi xe bagác. Thấy bị cáo L đi một mình nên bị cáo M đưa cây xẻng cho ông H cầm rồi điều khiển xe môtô chở ông H ngồi phía sau chạy theo sau bị cáo L.

Khi đến ngã tư cây xăng Hưng Lợi thuộc khu phố Long Bình, phường Khánh Bình thì có khoảng 03 - 04 xe ôtô tải đang dừng theo tín hiệu đèn giao thông (đèn đỏ). Lúc này, ông Đ nhìn phía sau thấy bị cáo L đang điều khiển xe chạy đến, trên tay cầm dao tự chế nên ông Đ điều khiển xe ba gác lấn trái vượt lên bên trái các xe tải đang dừng đèn đỏ để tiếp tục đi về phía trước. Thấy vậy, bị cáo L điều khiển xe môtô chạy sát lề phải vượt lên và bước xuống dùng xe môtô chặn phía trước đầu xe bagác đang chạy đến (vị trí bị cáo L dừng xe là trên đường ĐT747B, vừa qua khỏi mức dừng đèn đỏ nêu trên khoảng 05 mét), thấy bị cáo L tắt máy xe, chóng tó ngang, đứng cạnh xe, tay cầm dao tự chế nên ông Đ điều khiển xe bagác chở ông Th và ông C vượt qua đèn đỏ và tránh xe của bị cáo L rồi rẽ phải chạy về hướng vòng xoay cây xăng Kim Hằng.

Bị cáo L liền ngồi lên yên xe, gạt chân chống lên nhưng chưa nổ máy và quay đầu xe về hướng vòng xoay cây xăng Kim Hằng để nhằm đuổi theo xe bagác của ông Đ. Cùng lúc này, ông T điều khiển ô tô Fortuner 61A-391.46 chạy đến, đang rẽ phải để về nhà (hướng vòng xoay cây xăng Kim Hằng) thì thấy L đang ngồi trên yên xe, tay cầm mã tấu, trước hướng lưu thông của ông T nên ông T điều khiển xe 61A-391.46 từ sau đến đụng vào đuôi xe 60F1- 590.99 của bị L làm bị cáo cùng xe 60F1- 590.99 ngã xuống đường và ông T phanh xe dừng lại.

Sau khi té ngã, bị cáo L liền đứng dậy, cầm mã tấu chạy lại đứng gần cửa bên tài (bên trái) xe ôtô 61A-391.46 và dùng dao tự chế gõ vào kính xe kêu ông T xuống xe nhưng ông T không bước xuống mà tiếp tục điều khiển 61A-391.46 chạy về trước, khi ông T điều khiển xe 61A-391.46 chạy về phía trước thì phần đầu xe ôtô 61A-391.46 đè và đẩy xe môtô 60F1- 590.99 đi một đoạn khoảng 03 mét thì dừng lại. Lúc này, bị cáo L tiếp tục dùng dao tự chế chém vào kính xe ôtô 61A-391.46, thấy bị cáo L chém kính xe thì bị cáo M đứng gần đó cũng cầm xẻng đi đến và dùng xẻng đập vỡ kính xe ôtô 61A-391.46 của ông T. Sau đó, bị cáo L và bị cáo M dùng dao tự chế, xẻng luồn qua đoạn kính bị vỡ để đánh ông T. Thấy bị cáo L và M đánh ông T thì ông H cũng sử dụng 01 cây gỗ để cùng tham gia đánh ông T gây thương tích.

Tại thời điểm ông T bị đánh thì ông Th, C và Đ cách đó khoảng 200 mét nhìn thấy nên xuống xe bagác chạy bộ lại vị trí ông T bị đánh để hỗ trợ, trên đường chạy lại vị trí của ông T thì nhóm ông Th, C, Đ nhặt sỏi, đá cạnh đường ném về phía bị cáo L, bị cáo M và ông H nhưng không trúng. Khi thấy các ông Th, C, Đ chạy quay lại thì bị cáo L, bị cáo M và ông H lên xe chạy khỏi hiện trường. Ông T trình báo vụ việc đến Công an phường Khánh Bình, Công an phường tiếp nhận, lập hồ sơ và chuyển cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên thụ lý theo thẩm quyền.

Tại bản kêt luận định giá tài sản số 277 ngày 13/11/2018 của Hội đồng định gia tài sản thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên kết luận tổng giá trị tài sản thiệt hại (gồm có: 01 tấm kính chắn gió phía trước; 01 tấm kính chắn gió bên phải phía trước; 01 tấm kính chắn gió bên trái phía trước; làm đồng sơn và sơn 1 vết móp kim loại tại vị trí phía trên kính chắn gió bên phải phía trước; làm đồng và sơn 01 vết xước tại vị trí bên hong phải phía trước; làm đồng và sơn 01 vết thụng kim loại tại vị trí góc phải phía trước) là 17.080.000 đồng.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 505/2022/GĐPY ngày 18/7/2022 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Bình Dương kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Lương Quốc T do thương tích gây nên là 04%.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trương Thành L và Trương Văn M đã liên đới bồi thường cho bị hại Lương Quốc T số tiền 27.080.000 đồng, bị hại Lương Quốc T có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Cáo trạng số 97/CT-VKSTU ngày 27 tháng 3 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã truy tố các bị cáo Trương Thành L và Trương Văn M về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

- Bị cáo Trương Thành L từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng;

- Bị cáo Trương Văn M từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Trương Thành L và Trương Văn M đã liên đới bồi thường cho bị hại Lương Quốc T số tiền 27.080.000 đồng, bị hại T đã nhận tiền và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và không yêu cầu bồi thường gì khác nên không đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Trương Thành L và Trương Văn M đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng truy tố và không trình bày lời bào chữa.

Nói lời sau cùng: Các bị cáo đã nhận thấy hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 26/10/2018, tại khu phố Long Bình, phường Khánh Bình, thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, các bị cáo Trương Thành L và Trương Văn M đã dùng dao tự chế, xẻng để chém và đập làm hư hỏng 01 tấm kính chắn gió phía trước; 01 tấm kính chắn gió bên phải phía trước; 01 tấm kính chắn gió bên trái phía trước; tạo 1 vết móp kim loại tại vị trí phía trên kính chắn gió bên phải phía trước; tạo 01 vết xước tại vị trí bên hông phải phía trước; tạo 01 vết thụng kim loại tại vị trí góc phải phía trước của xe ô tô 61A-391.46 của ông Lương Quốc T gây thiệt với số tiền là 17.080.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã (nay là thành phố Tân Uyên) đã truy tố các bị cáo về tội danh và khung hình phạt như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý nhưng vẫn cố ý thực hiện, các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang lo lắng cho người bị hại, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương và tạo ra một dư luận không tốt trong nhân dân. Do đó, đối với hành vi của các bị cáo cần xử phạt một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo ý thức tuân thủ pháp luật và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo L có nhân thân tốt; bị cáo M đã 02 lần bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc.

Về vai trò: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo L là người khởi xướng, trực tiếp thực hiện hành vi; bị cáo M là người giúp sức tích cực.

Xét các bị cáo Trương Thành L và Trương Văn M có nơi cư trú ổn định, rõ ràng; chưa có tiền án; bản thân các bị cáo có khả năng tự cải tạo và không gây ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm; được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó, xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà căn cứ Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao cho bị cáo hưởng án treo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước và giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian nhất định cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, không gây ảnh hưởng xấu cho xã hội mà vẫn đảm bảo công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị xử phạt đối với các bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với hành vi gây thương tích của các bị cáo Trương Thành L và Trương Văn M đối với ông Lương Quốc T ngày 26/10/2018 là 04%, ông T không yêu cầu khởi tố vụ án nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên không khởi tố vụ án và xem xét, xử lý hình sự đối với Trương Thành L và Trương Văn M là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Đối với hành vi điều khiển xe ôtô Fortuner biển số 61A-391.46 của ông Lương Quốc T để đụng vào đuôi xe, đè và đẩy xe môtô biển số 60F1-590.99 của bị cáo L ngày 26/10/2018 đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên khởi tố vụ án, khởi tố bị can Lương Quốc T để điều tra, truy tố và vụ án đã được Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên xét xử tại Bản án hình sự sơ thẩm số 91/2023/HS-ST, ngày 19/4/2023.

Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Trương Thành L và Trương Văn M phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo;

- Xử phạt bị cáo Trương Thành L 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án (25/4/2023).

Giao bị cáo Trương Thành L cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Xử phạt bị cáo Trương Văn M 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án (25/4/2023).

Giao bị cáo Trương Văn M cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Buộc mỗi bị cáo Trương Thành L và Trương Văn M phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Các bị cáo, người có quyền lợi, nhĩa vụ liên quan đến có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Nếu vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ