vanban.org

Bản án 96/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 29/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Đức D 48 (Bốn tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (06/01/2023). Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN ĐỨC D - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGHI SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2023/HS-ST
Ngày: 29-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Mai Đức Danh

2. Ông Nguyễn Đắc Hưng

- Thư ký phiên toà: Ông Phùng Minh Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Hường – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 89/2023/TLST-HS ngày 06/9/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2023/QĐXXST-HS ngày 15/9/2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức D- Sinh ngày 03/7/1987, tại xã Tr, huyện N, Thanh Hóa; Nơi cư trú: Tổ 3, khu Th, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đức Th - Sinh năm 1956 và bà: Trần Thị L, - Sinh năm 1962; Có vợ: Hoàng Thị Thảo - Sinh năm 1994 (đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2017;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 219/2013 ngày 15/11/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã xử phạt bị cáo 27 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/01/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa;

*Bị hại:

1. Chị Lê Thị Th - Sinh năm 1983,

Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa;

2. Anh Nguyễn Trung T - Sinh năm 1988,

Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường Ng, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa

3. Anh Bùi Quang C - Sinh năm 1964,

Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa

4. Anh Nguyễn Hữu M - Sinh năm 1990,

Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa

* Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Văn H - Sinh năm 1981

Địa chỉ: Tổ 23 khu Đ, phường C, thành phố Cẩm Ph, tỉnh Quảng Ninh

* Người làm chứng: Anh Trần Đức Q - Sinh năm: 1978

Địa chỉ: Thôn H, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa;

Tất cả người bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 25/12/2022 đến ngày 05/01/2023, Nguyễn Đức Dđã liên tiếp thực hiện 04 vụ trộm cắp xe mô tô trên địa bàn thị xã Nghi Sơn để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào chiều ngày 25/12/2022, Nguyễn Đức D từ nhà bố mẹ đẻ ở xã Tr, huyện N đi xuống thị xã N tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến địa phận thôn N, xã H, thị xã N, D phát hiện thấy trước cổng quán cà phê Cồ có 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, BKS: 36C1-564.56 đang dựng trên vỉa hè. Quan sát xung quanh không có người, nên D đi lại chỗ dựng xe dùng vam phá khóa mang theo từ trước phá ổ khóa điện, trộm cắp chiếc xe. Sau khi mở được khóa điện, D nổ máy, điều khiển xe đi về Bệnh viện đa khoa huyện Nông Cống gửi chiếc xe vào bãi gửi xe của Bệnh viện nhằm cất giấu tài sản trộm cắp để tìm nơi tiêu thụ. Đến ngày 27/12/2022, D đến bãi xe Bệnh viện lấy chiếc xe trộm cắp đem đi nhờ người tiêu thụ được số tiền 2.200.000 đồng. Số tiền này, D đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

Quá trình điều tra xác định, chiếc xe mô tô trên là của chị Lê Thị Th, sinh năm 1983, trú tại thôn H, xã Đ, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 08/KL-ĐGTS ngày 06/01/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thị xã Nghi Sơn xác định: Chiếc xe mô tô của chị Lê Thị Th nêu trên trị giá tại thời điểm bị mất trộm là 15.000.000 đồng .

Vụ thứ hai: Chiều ngày 03/01/2023 D từ nhà bố mẹ đẻ ở xã Tr, huyện N đi xuống thị xã Nghi Sơn, sau đó đi dọc theo Quốc lộ 1A về hướng Nam tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến địa phận thôn Văn Yên, xã Hải Yến, thị xã Nghi Sơn, D phát hiện thấy 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu trắng đen, BKS: 36C1-545.17 đang dựng bên lề đường trước xưởng cơ khí, xung quanh không có người. D đi lại chỗ dựng xe, dùng vam phá khóa điện trộm cắp chiếc xe, rồi nổ máy điều khiển xe đi về Bệnh viện đa khoa huyện Nông Cống, gửi vào bãi gửi xe của Bệnh viện để tìm nơi tiêu thụ.

Quá trình điều tra xác định, chiếc xe D trộm cắp trên là của anh Nguyễn Trung Th, sinh năm 1988, trú tại tổ dân phố N, phường Ng, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 05/KL-ĐGTS ngày 06/01/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thị xã Nghi Sơn xác định: Chiếc xe mô tô của anh Nguyễn Trung Th nêu trên, trị giá tại thời điểm bị mất trộm là 15.000.000 đồng.

Vụ thứ ba: Vào khoảng 11 giờ ngày 04/01/2023 D từ thị trấn N, huyện Nông C đi xuống thị xã N, sau đó đi dọc theo Quốc lộ 1A về hướng Nam tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến khu vực tổ dân phố Tiền Ph, phường T, thị xã N Sơn, D phát hiện thấy bên lề đường trước nhà bà Nguyễn Thị L ở tổ dân phố T có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, BKS: 36C1-491.50, xung quanh không có người. D đi lại chỗ dựng xe, dùng vam phá ổ khóa điện, trộm cắp chiếc xe, sau đó nổ máy điều khiển xe đi về Bệnh viện đa khoa huyện N gửi chiếc xe vào bãi gửi xe của Bệnh viện để tìm nơi tiêu thụ.

Quá trình điều tra xác định, chiếc xe D trộm cắp trên là của anh Bùi Quang C, sinh năm 1964, trú tại tổ dân phố T, phường T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 06/KL-ĐGTS ngày 06/01/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thị xã Nghi Sơn xác định: Chiếc xe mô tô của anh Bùi Quang C nêu trên, tại thời điểm bị mất trộm trị giá 14.000.000 đồng.

Vụ thứ tư: Vào khoảng 08 giờ ngày 05/01/2023 D đi từ huyện N xuống thị xã N, rôi đi dọc theo tuyến đường tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến đường dân sinh thuộc địa phận tổ dân phố T, phường H, thị xã N, D phát hiện thấy có 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn đen bạc, BKS: 36C1-553.38 đang dựng sát lề đường. Thấy xung quanh không có người, D đi lại chỗ chiếc xe, dùng vam phá ổ khóa điện, khởi động xe, rồi điều khiển đi về huyện N, mục đích đem xe về gửi tại bãi để xe của Bệnh viện để tìm nơi tiêu thụ. Trên đường đi về đến khu vực bờ đê thuộc địa phận xã Tr, huyện N thì D bị Công an thị xã N yêu cầu đưa xe về trụ sở làm việc.

Quá trình điều tra xác định, chiếc xe D trộm cắp trên là tài sản của anh Nguyễn Hữu M, sinh năm 1990, trú tại tổ dân phố Đ, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 07/KL-ĐGTS ngày 06/01/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thị xã Nghi Sơn xác định: Chiếc xe mô tô của anh Nguyễn Hữu M nêu trên, tại thời điểm bị mất trộm trị giá 14.000.000 đồng.

Như vậy trong khoảng thời gian từ ngày 25/12/2022 đến ngày 05/01/2023 bị cáo đã 4 lần thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” trên địa bàn thị xã Nghi Sơn. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo trộm cắp là 58.000.000đ (năm mươi tám triệu đồng).

Quá trình điều tra, Nguyễn Đức D còn khai báo cùng tham gia thực hiện các vụ trộm cắp xe mô tô, đưa đi cất giấu và tiêu thụ tài sản trộm cắp nêu trên với Lê Văn H - Sinh năm 1981, Trú tại: Tổ 23, khu Đ, phường C, thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình tham gia trộm cắp, Hoạt sử dụng số điện thoại 0836207897 để liên lạc và sử dụng 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream (không rõ đặc điểm và biển kiểm soát); 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blacle gắn biển kiểm soát 12L1-119.78 làm phương tiện chở D đi tìm tài sản để trộm cắp, đồng thời Hoạt cũng chính là người trực tiếp mang chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, BKS: 36C1-564.56 trộm cắp của chị Lê Thị Th ra Quảng Ninh tiêu thụ sau đó đưa cho D số tiền 2.200.000 đồng. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh thông tin về số điện thoại, phương tiện xe mô tô D khai Lê Văn H sử dụng. Kết quả xác minh chủ thuê bao sử dụng số điện thoại 0836207897 là ông Võ Đại Nhân - Sinh năm 1975; Trú tại: Tiểu khu Tập Cát 2, thị trấn N, huyện Nông C, tuy nhiên ông Nh khai bản thân ông không đăng ký sử dụng số điện thoại này, không biết vì sao chủ thuê bao số điện thoại này lại mang tên mình và cũng không có mối quan hệ nào với Nguyễn Đức D và Lê Văn H. Đối với biển kiểm soát xe mô tô mang số 12L1-119.78, kết quả xác minh là biển số do phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Lạng Sơn cấp cho xe mô tô nhãn hiệu Honda Blacle của ông Vi Hạnh N, sinh năm 1959, ở thôn Phiêng Ét, xã Đông Q, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, chiếc xe này ông Nh sau đó đã cho con gái là Vi Thị C - Sinh năm 1987; Trú tại: Khu 7a, phường Cẩm Ph, thành phố Q sử dụng và theo chị C cung cấp, chiếc xe này đã bị mất trộm vào ngày 09/12/2022, do bận công việc nên không trình báo sự việc đến cơ quan Công an. Còn về chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, do D khai không rõ đặc điểm và biển kiểm soát nên không có căn cứ để xác minh.

Về đối tượng Lê Văn H, Cơ quan điều tra cũng đã xác minh và triệu tập H đến làm việc, tuy nhiên H không có mặt ở địa phương, nên chưa thu thập được lời khai của đối tượng để xác minh, làm rõ nội dung D khai báo. Ngoài lời khai của D, thì không còn có tài liệu, chứng cứ nào khác xác định Lê Văn H đã tham gia trộm cắp và tiêu thụ tài sản trộm cắp cùng với D như D khai báo. Hiện nay, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm đối tượng Lê Văn H để tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau theo quy địn của pháp luật khi có đủ căn cứ.

Đối với anh Trần Đức Q là bảo vệ trông giữ xe cho Bệnh viện đa khoa huyện Nông Cống đã cho Nguyễn Đức D gửi xe mô tô trộm cắp vào bãi gửi xe của Bệnh viện, quá trình điều tra xác định khi cho D gửi xe anh Quế không biết xe mô tô D gửi vào bãi xe của Bệnh viện là xe trộm cắp nên anh Quế không phạm tội.

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ các vật chứng sau:

- Thu giữ của Nguyễn Đức D :

+ 03 lưỡi vam tự chế bằng kim loại màu trắng xám, có phần thân hình lục giác, phần lưỡi dẹt nhọn, mỗi lưỡi vam dài 07cm.

+ 02 lưỡi vam tự chế bằng kim loại màu trắng xám, có phần thân hình lục giác, phần lưỡi dẹt nhọn, mỗi lưỡi vam dài 05cm.

+ 01 dụng cụ tay công vặn ốc màu đỏ, đen, trắng, xám gồm phần tay cầm và phần ống, trong đó phần tay cầm dài 16cm, được bọc ốp nhựa màu đỏ đen và phần ống hình trụ tròn, dài 06cm, đường kính 01cm.

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha, BKS: 36C1-553.38, màu sơn xanh, đen, bạc; số máy: JA39E2752235 số khung: RLHJA3925NY255288; xe đã qua sử dụng, hoạt động bình thường.

+ 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen, bản 32Gb, số imei: 355374080093081, bên trong lắp sim số 0974.946.402, máy đã qua sử dụng.

- Thu giữ của anh Trần Đức Quế:

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS: 36C1-491.50, màu sơn đỏ, đen; số máy: E32VE385581, số khung: RLCUE3740MY104620; xe đã qua sử dụng, hoạt động bình thường.

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha, BKS: 36C1-545.17, màu sơn trắng, đen, bạc; số máy: JA39E2756260, số khung: RLHJA392XNY259434; xe đã qua sử dụng, hoạt động bình thường.

Tại Bản kết luận giám định số 2225/KL-KTHS ngày 14/5/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:

- 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu đen, số IMEI: 355374080093081, kèm theo 01 SIM có ghi số: 8984048000063714812. Điện thoại đã đăng xuất tài khoản Zalo.

- Không tìm thấy dữ liệu đã xóa trong điện thoại gửi giám định.

- Tìm thấy 66 tin nhắn SMS, 47 (bốn bảy) cuộc gọi trong điện thoại gửi giám định - Thể hiện trong Phụ lục.

- Không trích xuất được dữ liệu tin nhắn Messenger Facebook - Do không có đủ điều kiện cần thiết cho việc thực hiện giám định.

Quá trình điều tra, sau khi xác minh nguồn gốc phương tiện, phục vụ việc định giá tài sản và giám định, xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 03 chiếc xe mô tô đã thu giữ trên cho chủ sở hữu tài sản là anh Nguyễn Trung Th, anh Bùi Quang C và anh Nguyễn Hữu M.

Số vật chứng còn lại hiện đang được bảo quản, chờ xử lý theo quy định.

Riêng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, BKS:36C1-564.56 mà D đã trộm cắp của chị Lê Thị Th đem bán, Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp xác minh, truy tìm nhưng không có kết quả.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, chị Lê Thị Th yêu cầu bồi thường giá trị chiếc xe mô tô Honda Wave Alpha, BKS: 36C1-564.56 bị mất trộm theo kết quả định giá là 15.000.000 đồng. Ngày 14/7/2023, chị Hoàng Thị Thảo (là vợ của D ) đã bồi thường cho chị Th 5.000.000 đồng; Số tiền còn lại chị Th tiếp tục yêu cầu bồi thường.

Những người bị hại khác đã nhận lại tài sản bị mất trộm nên không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự.

Bản cáo trạng số 99/CT-VKSNS ngày 05/9/2023 của VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Đức D về tội “Trộm cắp tài sản” theo điển c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

* Tại phiên tòa Viện kiểm sát đề nghị:

- Áp dụng: Điển c khoản 2 Điều Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Đức D .

- Mức hình phạt mà VKS đề nghị xử phạt đối với bị cáo Nguyễn Đức D từ 42 tháng đến 48 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (06/01/2023). Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

- Cơ quan điều tra đã trả lại cho:

+ Anh Nguyễn Trung Th 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha, BKS: 36C1-545.17, màu sơn trắng, đen, bạc; số máy: JA39E2756260, số khung: RLHJA392XNY259434;

+ Anh Bùi Quang C 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS: 36C1-491.50, màu sơn đỏ, đen; số máy: E32VE385581, số khung: RLCUE3740MY104620.

+ Anh Nguyễn Hữu M 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha, BKS: 36C1-553.38, màu sơn xanh, đen, bạc; số máy: JA39E2752235 số khung: RLHJA3925NY255288;

Những người bị hại nói trên đã nhận lại tài sản bị mất đầy đủ và không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị HĐXX không xem xét.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 03 lưỡi vam tự chế bằng kim loại màu trắng xám, có phần thân hình lục giác, phần lưỡi dẹt nhọn, mỗi lưỡi vam dài 07cm.

+ 02 lưỡi vam tự chế bằng kim loại màu trắng xám, có phần thân hình lục giác, phần lưỡi dẹt nhọn, mỗi lưỡi vam dài 05cm.

+ 01 dụng cụ tay công vặn ốc màu đỏ, đen, trắng, xám gồm phần tay cầm và phần ống, trong đó phần tay cầm dài 16cm, được bọc ốp nhựa màu đỏ đen và phần ống hình trụ tròn, dài 06cm, đường kính 01cm

- Tịch thu bán sung quỹ Nhà Nước: 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu đen, số IMEI: 355374080093081, kèm theo 01 SIM có ghi số: 8984048000063714812. Điện thoại đã đăng xuất tài khoản Zalo.

- Buộc bị cáo Nguyễn Đức D phải tiếp tục bồi thường cho chị Th 10.000.000đ.

Giành quyền khởi kiện cho bị cáo đối với Lê Văn H khi có căn cứ và đủ điều kiện khởi kiện về số tiền mà bị cáo phải bồi thường cho chị Thủy.

- Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Công an thị xã Nghi Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà sơ thẩm công khai hôm nay, bị cáo Nguyễn Đức D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với tang vật vụ án, lời khai của bị hại, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cũng như các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà hôm nay. Do đó có đủ căn cứ để khẳng định VKSND thị xã Nghi Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Đức D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng.

Xét tính chất vụ án: Bị cáo là người có đủ năng lực về mọi mặt để nhận thức được “Trộm cắp tài sản” là hành vi vi phạm pháp luật và là tội phạm. Song, do muốn có nhiều tiền để tiêu sài cá nhân nên bị cáo đã bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử buộc phải chịu một hình phạt là cần thiết và cần phải có đường lối xử lý tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, HĐXX thấy rằng:

Tuy không có tiền án, tiền sự, nhưng bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện mình trở thành con người tốt. Để có tiền phục vụ nhu cầu cá nhân bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi “Trộm cắp” trên các địa bàn khác nhau nên bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội nhiều lần quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Điều đó chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật và cố ý thực hiện tội phạm. Với nhân thân và hành vi phạm tội của bị cáo, nghĩ cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo.

Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo; Chị Nguyễn Thị T ( vợ bị cáo) đã bồi thường cho chị Th một phần giá trị tài sản bị trộm cắp. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

- Cơ quan điều tra đã trả lại cho:

+ Anh Nguyễn Trung Th 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha, BKS: 36C1-545.17, màu sơn trắng, đen, bạc; số máy: JA39E2756260, số khung: RLHJA392XNY259434;

+ Anh Bùi Quang C 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS: 36C1-491.50, màu sơn đỏ, đen; số máy: E32VE385581, số khung: RLCUE3740MY104620.

+ Anh Nguyễn Hữu M 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha, BKS: 36C1-553.38, màu sơn xanh, đen, bạc; số máy: JA39E2752235 số khung: RLHJA3925NY255288;

Những người bị hại nói trên đã nhận lại tài sản bị mất đầy đủ và không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị HĐXX không xem xét.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 03 lưỡi vam tự chế bằng kim loại màu trắng xám, có phần thân hình lục giác, phần lưỡi dẹt nhọn, mỗi lưỡi vam dài 07em;

+ 02 lưỡi vam tự chế bằng kim loại màu trắng xám, có phần thân hình lục giác, phần lưỡi dẹt nhọn, mỗi lưỡi vam dài 05cm;

+ 01 dụng cụ tay công vặn ốc màu đỏ, đen, trắng, xám gồm phần tay và phần ống, trong đó phần tay cầm dài 16cm, được bọc ốp nhựa màu đỏ đen và phần ống hình trụ tròn, dài 06cm, đường kính 01cm.

Tất cả được niêm phong trong hộp niêm phong có chữ ký, chữ viết của người tham gia và hình con dầu của cơ quan CSĐT Công an thị xã Nghi Sơn.

- Tịch thu bán sung quỹ Nhà Nước: 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen, bản 32Gb, số imei 355374080093081, bên trong lắp sim số 0974.946.402, máy đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì niêm phong có chữ ký, chữ viết của người tham gia và hình con dấu của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoa.

- Buộc bị cáo Nguyễn Đức D bồi thường cho chị Nguyễn Thị Th số 15.000.000đ là giá trị của xe máy bị cáo đã trộm cắp của chị Th mà bị cáo đã bán đi tiêu sài cá nhân hết, nhưng được trừ 5.000.000đ chị Hoàng Thị T (vợ của D ) đứng ra bồi thường khi bị cáo bị tạm giam. Bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho chị Th 10.000.000đ.

Giành quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác cho bị cáo đối với Lê Văn H khi có căn cứ và đủ điều kiện khởi kiện về số tiền mà bị cáo phải bồi thường cho chị Thủy.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thì các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định. Do đó, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điển c khoản 2 Điều Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Đức D .

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Đức D 48 (Bốn tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (06/01/2023). Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 03 lưỡi vam tự chế bằng kim loại màu trắng xám, có phần thân hình lục giác, phần lưỡi dẹt nhọn, mỗi lưỡi vam dài 07em;

+ 02 lưỡi vam tự chế bằng kim loại màu trắng xám, có phần thân hình lục giác, phần lưỡi dẹt nhọn, mỗi lưỡi vam dài 05cm;

+ 01 dụng cụ tay công vặn ốc màu đỏ, đen, trắng, xám gồm phần tay và phần ống, trong đó phần tay cầm dài 16cm, được bọc ốp nhựa màu đỏ đen và phần ống hình trụ tròn, dài 06cm, đường kính 01cm.

Tất cả được niêm phong trong hộp niêm phong có chữ ký, chữ viết của người tham gia và hình con dầu của cơ quan CSĐT Công an thị xã Nghi Sơn.

- Tịch thu bán sung quỹ Nhà Nước: 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen, bản 32Gb, số imei 355374080093081, bên trong lắp sim số 0974.946.402, máy đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì niêm phong có chữ ký, chữ viết của người tham gia và hình con dấu của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoa.

(Theo phiếu nhập kho số NK2023/73 ngày 8 tháng 9 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn)

- Buộc bị cáo Nguyễn Đức D phải tiếp tục bồi thường cho chị Nguyễn Thị Th 10.000.000đ.

Giành quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác cho bị cáo đối với Lê Văn H khi có căn cứ và đủ điều kiện khởi kiện về số tiền mà bị cáo phải bồi thường cho chị Thủy.

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

- Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23, điểm b khoản 1 Điều 24 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Nguyễn Đức D phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 500.000đ án phí dân sự sơ thẩm

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa. Tuyên bố bị cáo được quyền kháng cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Những người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại UBND cấp xã nơi nơi có trụ sở.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ