- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thị Thiên Kim - phạm tội môi giới mại dâm (điều 328 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Thị Thiên K phạm tội “Môi giới mại dâm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 96/2023/HS-ST Ngày 22-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Qúy Phúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Vĩnh Mậu.
2. Bà Trần Thị Minh Thâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Trúc, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hồng Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 93/2023/TLST- HS, ngày 30 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 251/2023/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:
Phan Thị Thiên K, sinh năm 1964 tại thành phố H; nơi cư trú: thôn P, xã P, H1ện T, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn T (Chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1940; chồng là Đặng Thành H, có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 16/6/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
1. Ông Đặng Thành H, sinh năm 1955, nơi cư trú thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, có mặt.
2. Bà Trần Thị O, sinh năm 1959, nơi cư trú thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
3. Chị Phạm Thị H, sinh năm 1994, nơi cư trú thôn N, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
4. Anh Trần Quang H1, sinh năm 1995, nơi cư trú 10/10 M, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
5. Chị Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1981, nơi cư trú thôn V, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
6. Bà Lương Thị Đ, sinh năm 1961, nơi cư trú thôn P, xã P, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
7. Anh Trần Nhựt T, sinh năm 1994, nơi cư trú thôn P, xã P, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
8. Chị Trần Thị Thùy D, sinh năm 1982, nơi cư trú thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22h00’ ngày 25/11/2021, Trần Quang H1 điều khiển xe mô tô biển số 77L2-194.89 đến quán cà phê K ở thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định mục đích để mua dâm. Lúc này, Trần Thị O sử dụng số điện thoại 0368525177 gọi đến số điện thoại 0376788191 của Phan Thị Thiên K nói K chở người đến quán cà phê K để bán dâm cho Trần Quang H1 thì K đồng ý. Sau đó, K sử dụng số điện thoại 0862761615 gọi đến số điện thoại 0967731485 của Phạm Thị H (Lúc này, H đang ở trọ tại nhà trọ của bà Lương Thị Đ) nói H đến quán cà phê K để bán dâm cho khách thì H đồng ý. Sau đó, K điều khiển xe mô tô đến trước nhà trọ của bà Lương Thị Đ để chở H đi. Khi đến trước quán cà phê K thì H đi bộ vào quán cà phê K, còn K đi về. Khi nào H bán dâm cho khách xong thì điện thoại K đến quán cà phê K để chở H về. Theo thỏa thuận thì sau khi thực hiện xong hành vi mua dâm Trần Quang H1 sẽ trả cho Trần Thị O số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), O sẽ lấy tiền cho thuê phòng là 60.000 đồng (sáu mươi nghìn đồng), K lấy tiền môi giới để H bán dâm cho khách là 40.000 đồng (bốn mươi nghìn đồng), còn H sẽ lấy 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng). Tuy nhiên, trong lúc Trần Quang H1 và Phạm Thị H đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị Công an xã P phát hiện đưa về trụ sở Công an xã làm việc, H1 chưa đưa tiền cho O nên K và Hạ chưa nhận được tiền từ O.
Tại bản Cáo trạng số 96/CT-VKS-TP ngày 24 tháng 8 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Phan Thị Thiên K về tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 328 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phan Thị Thiên K về tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 của Bộ luật hình sự năm 2015 và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 328, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Phan Thị Thiên K từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.
Bị cáo không trình bày lời bào chữa và không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là sai, vi phạm pháp luật; xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tuy Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phan Thị Thiên K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 25/11/2021 bị cáo Phan Thị Thiên K đã thực hiện hành vi làm trung gian dẫn dắt và chở Phạm Thị H đến quán cà phê K ở thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định do bà Trần Thị O quản lý để Trần Quang H1 và Phạm Thị H thực hiện hành vi mua bán dâm. Theo thỏa thuận sau khi thực hiện hành vi mua bán dâm thì Trần Thị O sẽ lấy tiền thuê phòng là 60.000 đồng, bị cáo Phan Thị Thiên K lấy tiền môi giới để Phạm Thị H bán dâm cho khách là 40.000 đồng. Hành vi của Phan Thị Thiên K đã xâm phạm đến đạo đức, thuần phong mỹ tục, đời sống văn hóa và trật tự trị an xã hội tại địa phương nên cần phải xử lý bằng pháp luật hình sự để giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Xét tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Phan Thị Thiên K là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức để điều khiển hành vi của mình cho phù hợp với quy định của pháp luật, trong khi bị cáo nhận thức được hành vi môi giới mại dâm là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn thực hiện để hưởng lợi tiền môi giới. Do đó hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Môi giới mại dâm” được quy định tại khoản 1 Điều 328 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xét các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo là phụ nữ đã lớn tuổi, mục đích phạm tội là để kiếm thêm thu nhập trang trải cuộc sống, số tiền bị cáo hưởng lợi thấp. Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử thấy rằng không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo một mức hình phạt tù, nhưng cho bị cáo được hưởng hình phạt có điều kiện và ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và nhận định của Hội đồng xét xử là phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Đối với Trần Thị O có hành vi cho Trần Quang H1 và Phạm Thị H thuê địa điểm là phòng sau của quán cà phê K để thực hiện việc mua bán dâm. Ngày 15/12/2022, Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định đã xét xử và tuyên phạt Trần Thị O 01 (một) năm tù về tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại Điều 327 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét về án phí hình sự sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Phan Thị Thiên K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 328; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ vào các điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Thị Thiên K phạm tội “Môi giới mại dâm”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Thị Thiên K 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22/9/2023).
Giao bị cáo Phan Thị Thiên K cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22/9/2023).
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Định; - Viện kiểm sát nhân dân H Tuy Phước, tỉnh Bình Định; - Công an H Tuy Phước, tỉnh Bình Định; - Chi cục thi hành án dân sự H Tuy Phước, tỉnh Bình Định; - Bị cáo; - Lưu Hs; | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quý Phúc |