vanban.org

Bản án 96/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Định Tuyên án 21/06/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/06/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a,b khoản 1 Điều 355; Điều 356;điểm d Điều 357Bộ luật Tố tụng Hình sự

Điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Ngọc T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 49/2023/HSST ngày… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Ngọc T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm a,b khoản 1 Điều 355; Điều 356;điểm d Điều 357Bộ luật Tố tụng Hình sự
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2023/HS-PT
Ngày : 21- 6 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Xuân Hải.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Tuấn; Ông Nguyễn Văn Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Hằng là thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Lệ Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm trực tiếp công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 84/2023/TLPT-HS ngày 22 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo Huỳnh Ngọc T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2023/HSST ngày 11 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định.

Bị cáo có kháng cáo:

HUỲNH NGỌC T, sinh năm 1973 tại tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Tổ 3, khu phố 1, phường H, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: không, quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Trọng T (chết) và bà Lê Thị H - sinh năm 1943; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên tòa.

Nhân thân: Ngày 21/4/1992, bị Tòa án nhân dân thành phố Q xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; ngày 12/10/1993 bị Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” (đều được xóa án tích).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 30/8/2022, Huỳnh Ngọc T đi bộ tập thể dục từ nhà tại tổ 3, khu phố 1, phường Hải Cảng, Tp. Q đến vỉa hè đường X, phường H, Tp. Q sát bờ biển. Cùng lúc này, bà Vũ Thị T (sinh năm: 1962, trú tại: Thôn Đ, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang) đi từ khách sạn Vietnam Taste địa chỉ 96 X thuộc tổ 59, khu phố 11, phường H, Tp. Q sang khu vực vỉa hè sát bờ biển, đối diện khách sạn để chụp ảnh lưu niệm. Tại đây, bà T có treo 01 túi xách bằng vải thổ cẩm có dây đeo, kích thước (20x15x5)cm dưới gốc cây chà là. Huỳnh Ngọc T đi ngang qua thấy túi xách của bà T treo ở đây và không có người trông coi nên lén lút lấy túi xách rồi bỏ chạy đến hẻm trên đường Đ thuộc tổ 59, khu phố 11, phường H, Tp. Q. Tại đây, T mở túi xách ra kiểm tra thấy trong túi xách có: 4.000.000 đồng tiền mặt, 01 điện thoại đi động OPPO A71, 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 thẻ bảo hiểm y tế đều mang tên Vũ Thị T. T lấy hết tài sản, giấy tờ trong túi xách rồi vứt bỏ túi xách. Sau đó, T đem số tài sản trộm được về cất giấu tại nhà ở tổ 3, khu phố 1, phường H, Tp. Q. Bà T sau khi chụp ảnh quay lại phát hiện túi xách bị mất nên trình báo sự việc cho Công an phường Hải Cảng. Tại cơ quan Công an, T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và tự nguyện giao nộp tài sản đã chiếm đoạt.

Ngày 26/9/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Q kết luận:

- 01 túi xách có kích thước (20x15x5)cm, bằng vải thổ cẩm, có dây đeo, mặt trước có in hình 04 con chim cú mèo, mua mới tháng 7/2022, đã qua sử dụng, chất lượng còn lại khoảng 90%, khảo sát giá tại thời điểm là 30.000 đồng.

- 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu đen loại A71, số imei 1: 867760031585095, số imei 2: 867760031585087, mua mới năm 2018, đã qua sử dụng, chất lượng còn lại khoảng 70%, khảo sát giá tại thời điểm là 1.300.000 đồng.

Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2023/HSST ngày 11 ngày 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Ngọc T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về phần án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

Ngày 25/4/2023, bị cáo Huỳnh Ngọc T kháng cáo xin được hưởng án treo.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Q Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu khác có trong sơ vụ án thể hiện: Ngày 30/8/2022 bị cáo Huỳnh Ngọc T đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 túi xách của bị hại Vũ Thị T, bên trong có 4.000.000 đồng tiền mặt; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A71 trị giá 1.300.000 đồng và một số giấy tờ tùy thân. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.

. Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Huỳnh Ngọc T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Lợi dụng người bị hại mất cảnh giác trong việc quản lý tài sản, bị cáo Huỳnh Ngọc T đã lén lút thực hiện hành vi phạm tội chiếm đoạt tài sản tổng giá trị 5.330.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc T 06 tháng tù là phù hợp. Hơn nữa, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ khác để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ y bản án sơ thẩm.

. Về phần xử lý vật chứng: Tại phần nhận định của bản án sơ thẩm về phần xử lý vật chứng có ghi: Lưu hồ sơ 01 đĩa DVD lưu trữ 01 đoạn video thời lượng 32 phút 14 giây ghi lại hình ảnh Huỳnh Ngọc T thực hiện hành vi trộm cắp nhưng phần Quyết định của bản án sơ thẩm không tuyên là thiếu sót cần rút kinh nghiệm. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa phần xử lý vật chứng tại Quyết định của bản án sơ thẩm cho phù hợp với quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự nhằm giải quyết vụ án một cách triệt để.

. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đề nghị: Giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

. Về án phí: Theo điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Huỳnh Ngọc T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điểm a,b khoản 1 Điều 355; Điều 356;điểm d Điều 357Bộ luật Tố tụng Hình sự

Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Ngọc T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 49/2023/HSST ngày 29/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định về phần hình phạt. Sửa quyết định về phần xử lý vật chứng.

2. Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Ngọc T 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Huỳnh Ngọc T phải chịu 200.000 đồng.

4. Về phần xử lý vật chứng: Thu giữ để làm tài liệu hồ sơ vụ án: 01 đĩa DVD lưu trữ 01 đoạn video thời lượng 32 phút 14 giây ghi lại hình ảnh Huỳnh Ngọc T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. (theo biên bản giao nhận hồ sơ vụ án ngày 19/01/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Q và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định).

5. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ