vanban.org

Bản án 96/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đỗ Thị Hoài T và anh Mai Văn P

Về trách nhiệm nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn: Giao cháu Mai Đỗ Khánh Th, sinh ngày 07/12/2010 cho chị Đỗ Thị Hoài T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Đỗ Thị Hoài T … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa Đỗ Thị Hồng T và Mai Văn P"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đỗ Thị Hoài T và anh Mai Văn P
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 264 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ AN NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 10 - 4 - 2023
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Hữu Nhàn

2/ Bà Trương Thị Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nguyệt Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Liêm – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 450/2022/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 443/2023/QĐXX –HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Hoài T, sinh năm: 1984; Địa chỉ: Số 3/18 Nguyễn Văn S, phường T, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Mai Văn P, sinh năm: 1984; Địa chỉ: Đội M, thôn A, xã K, thị xã A, tỉnh Bình Định, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 25 tháng 3 năm 2022 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đỗ Thị Hoài T trình bày: chị và anh Mai Văn P tự nguyện đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn năm 2009 tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại phường T, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng chung sống bình thường cho đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh P ham mê cờ bạc và đánh đập chị. Vợ chồng không còn sống chung từ năm 2022 cho đến nay. Chị không muốn tiếp tục cuộc sống hôn nhân với anh Mai Văn P nên yêu cầu Tòa giải quyết cho ly hôn.

Chị và anh Mai Văn P có 01 con chung là Mai Đỗ Khánh Th, sinh ngày 07/12/2010. Ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Chị không yêu cầu Tòa giải quyết tài sản chung.

- Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Mai Văn P trình bày: thống nhất như lời trình bày của chị Đỗ Thị Hoài T về thời gian, điều kiện đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh sống tại nhà cha mẹ vợ ở Thành phố Hồ Chí Minh. Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc. Đến tháng 02/2022, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị T không lo làm ăn mà chơi game. Anh khuyên nhưng chị T không sửa đổi. Vợ chồng còn mâu thuẫn về chỗ ở. Anh muốn ở riêng, không muốn ở chung nhà với cha mẹ vợ nhưng chị T không đồng ý. Mâu thuẫn tiếp diễn đến tháng 3/2022 thì vợ chồng không còn sống chung với nhau nữa. Chị T yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý.

Vợ chồng có con chung là Mai Đỗ Khánh Th, sinh ngày 07/12/2010, đang ở với chị T. Anh thống nhất giao cháu Thy cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con. Anh không yêu cầu giải quyết về tài sản chung.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đối với vụ án từ giai đoạn thụ lý, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo pháp luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đỗ Thị Hoài T và anh Mai Văn P; giao cháu Mai Đỗ Khánh Th, sinh ngày 07/12/2010 cho chị Đỗ Thị Hoài T tiếp tục nuôi dưỡng sau khi ly hôn; chị Đỗ Thị Hoài T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên miễn xét; về tài sản chung: đương sự không yêu cầu giải quyết, nên miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Đỗ Thị Hoài T và anh Mai Văn P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh P.

Chị Đỗ Thị Hoài T và anh Mai Văn P tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 04/8/2009, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình chung sống, chị Đỗ Thị Hoài T và anh Mai Văn P xảy ra mâu thuẫn và tự chấm dứt cuộc sống hôn nhân từ tháng 03/2022. Chị Đỗ Thị Hoài T yêu cầu ly hôn. Anh Mai Văn P đồng ý ly hôn. Tuy nhiên, chị Đỗ Thị Hoài T và anh Mai Văn P yêu cầu không tiến hành hòa giải, nên phải mở phiên tòa xét xử. Xét sự thuận tình ly hôn của chị Đỗ Thị Hoài T và anh Mai Văn P là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với tình trạng mâu thuẫn của anh chị, nên công nhận.

Chị Đỗ Thị Hoài T và anh Mai Văn P có một con chung là cháu Mai Đỗ Khánh Th, sinh ngày 07/12/2010. Chị Đỗ Thị Hoài T yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu Thy sau khi ly hôn và được anh Mai Văn P đồng ý. Do đó, xét giao cháu Mai Đỗ Khánh Th cho chị Đỗ Thị Hoài T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với nguyện vọng của cháu Mai Đỗ Khánh Th và phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

Chị Đỗ Thị Hoài T không yêu cầu anh Mai Văn P cấp dưỡng nuôi con, nên miễn xét.

Chị Đỗ Thị Hoài T và anh Mai Văn P không yêu cầu Tòa giải quyết về tài sản chung, nên miễn xét.

Về án phí sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, chị Đỗ Thị Hoài T và anh Mai Văn P phải chịu mỗi người 75.000đ.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, các Điều 264, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng các Điều 51, 53, 55, 81, 82, 83, 84 và Điều 85 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đỗ Thị Hoài T và anh Mai Văn P

2. Về trách nhiệm nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn: Giao cháu Mai Đỗ Khánh Th, sinh ngày 07/12/2010 cho chị Đỗ Thị Hoài T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Đỗ Thị Hoài T không yêu cầu anh Mai Văn P cấp dưỡng nuôi con, nên miễn xét.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con

4. Về quan hệ tài sản: Chị Đỗ Thị Hoài T và anh Mai Văn P không yêu cầu Tòa giải quyết, nên miễn xét.

5. Án phí sơ thẩm: chị Đỗ Thị Hoài T và anh Mai Văn P phải chịu mỗi người 75.000đ án phí ly hôn. Chị T được trừ vào 300.000(ba trăm nghìn)đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0035348 ngày 08/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, còn hoàn trả cho chị T số tiền 225.000(hai trăm hai mươi lăm nghìn) đồng.

6. Quyền kháng cáo: Chị Đỗ Thị Hoài T và anh Mai Văn P vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ