vanban.org

Bản án 96/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Đặng Thị M và anh Trần Hữu N.

Về con chung: Giao cho chị Đặng Thị M tiếp tục trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con Trần Đức S, sinh ngày 04/8/2013. Anh Trần Hữu N không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở. Về tài sản: Chị M không yêu cầu Tòa án xem xét g… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Đặng Thị M và anh Trần Hữu N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN TRUỜNG
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2023/HNGĐ-ST
Ngày:02-8-2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly
hôn giữa chị M và anh N.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Long.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Xuân Thùy;

Bà Đinh Thị Hồng Thơm.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tùng-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Đặng Xuân Tự - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Xuân Trường xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 56/2023/TLST-HNGĐ ngày 24/5/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/7/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14/7/2023 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Chị Đặng Thị M, sinh năm 1988; địa chỉ: xóm 2, xã , huyện X, tỉnh Nam Định; vắng mặt, chị M có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Hữu N, sinh năm 1980; địa chỉ: Xóm 2, xã X, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai quá trình giải quyết nguyên đơn chị Đặng Thị M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Hữu N tự nguyện tìm hiểu đi đến hôn nhân đã được Ủy ban nhân dân xã X, huyện , tỉnh Nam Định đăng ký kết hôn vào ngày 17/9/2012. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình lối sống không hòa hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung. Từ năm 2018 đến nay vợ chồng đã sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, hạnh phúc đã tan vỡ nên nguyện vọng của chị là được xin ly hôn anh Trần Hữu N.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trần Đức S, sinh ngày 04/8/2013; hiện con đang ở với chị. Khi ly hôn chị xin nhận nuôi con và không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã gửi các văn bản tố tụng cho anh Trần Hữu N, anh N đã nhận nhưng không đến Tòa án để làm việc cũng như không có ý kiến trình bày bằng văn bản gửi đến Tòa án.

Kết quả thu thập chứng cứ tại UBND xã X

* Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị M và anh Trần Hữu N có hộ khẩu thường trú tại xã X, huyện X, tỉnh Nam Định.

Chị Đặng Thị M và anh Trần Hữu N tự nguyện tìm hiểu đi đến hôn nhân đã được Ủy ban nhân dân xã X, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định đăng ký kết hôn vào ngày 17/9/2012. Chị M và anh N mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình lối sống không hòa hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng có tiếng nói chung. Ngoài ra anh N còn nghiện rượu hay xay xỉn. Mấy năm nay chị M và anh N không chung sống với nhau nữa. Khi Tòa án có giấy báo gửi cho anh Nhân thông qua Công an xã, Công an xã đã tống đạt rất nhiều giấy báo của Tòa án cho anh N cũng như giải thích cho anh N và quyền lợi của mình, còn anh Nhân có đến Tòa án làm việc hay không đó là quyền. Căn cứ vào lời trình bày của chị M cũng như thực trạng hôn nhân giữa chị M và anh N đề nghị Tòa án giải quyết cho chị M được ly hôn anh N

* Về con chung: Chị Mận và anh N có 01 con chung tên Trần Đức S sinh ngày 04/8/2013; hiện con đang ở với chị M. Khi ly hôn chị M xin nhận nuôi con và không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con. Để đảm bảo quyền lợi cho cháu bé khi ly hôn, đề nghị Tòa án giao cho chị M tiếp tục nuôi dưỡng con và anh N không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.

* Về tài sản: Ở địa phương chị M và anh N không có tài sản gì, còn ở chung với bố mẹ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử , các đương sự tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành theo quy định của pháp luật; bị đơn không chấp hành theo quy định của pháp luật.

Nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình: Đề nghị Hội đồng xét xử, xử ly hôn giữa chị Đặng Thị M và anh Trần Hữu N.

Về con chung: Giao cho Đặng Thị M tiếp tục trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con Trần Đức S, sinh ngày 04/8/2013. Anh Trần Hữu N không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.

Về tài sản: Chị M không yêu cầu Tòa án xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành theo quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị M và anh Trần Hữu N kết hôn hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình lối sống không hòa hợp, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, từ năm 2018 đến nay chị M và anh N đã sống ly thân. Nay chị Đặng Thị M xin ly hôn anh Trần Hữu N, anh N đã biết chị M xin ly hôn, anh N đã nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh N không đến Tòa án để làm việc, không có văn bản trình bày ý kiến của mình về việc chị M xin ly hôn. Điều đó chứng tỏ anh N không thiết tha mặn mà với cuộc sống chung của vợ chồng. Xét thấy, mẫu thuẫn giữa chị M và anh N là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nay chị M xin ly hôn anh N là phù hợp với thực tế và pháp luật nên HĐXX chấp nhận xử ly hôn giữa chị M và anh N theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị M và anh Nhân có 01 con chung là Trần Đức S, sinh ngày 04/8/2013. Nay ly hôn chị M xin nhận nuôi con và không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy chị M xin nhận nuôi con cũng như nguyện vọng của cháu S xin được với chị Mận và ghi nhận chị M không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX sẽ giao cho chị M tiếp tục nuôi con là phù hợp.

Về tài sản: Chị M không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết là phù hợp.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý về sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Đặng Thị M và anh Trần Hữu N.

2. Về con chung: Giao cho chị Đặng Thị M tiếp tục trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con Trần Đức S, sinh ngày 04/8/2013. Anh Trần Hữu N không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản: Chị M không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Đặng Thị M phải nộp án phí ly hôn là 300.000đ được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số 0003233 ngày 24/5/2023 Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định; chị Đặng Thị M đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ