- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn giữa anh Lô Đình H và chị Vi Thị C"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Lô Đình H được ly hôn chị Vi Thị C;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 96 /2023/HNGĐ-ST Ngày 28 tháng 12 năm 2023 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hữu Lộc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1, Ông Cụt Văn Ỏn.
2, Bà Bùi Thị Nga.
- Thư ký phiên tòa: Ông Quang Thái Tài - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Vũ Đức Tính - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 89/2023/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lô Đình H, sinh năm 1977; Nơi cư trú: bản KN, xã XL, huyện TD, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Chị Vi Thị C, sinh năm 1984; Nơi cư trú: bản NC, xã HK, huyện KS, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 09 năm 2023 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án anh Lô Đình H trình bày: Anh Lô Đình H và chị Vi Thị C tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã XL, huyện TD, tỉnh Nghệ An vào ngày 14/01/2016, việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng sau này tính tình không hợp nhau, thường xuyên mâu thuẫn, hai bên không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn nên anh Lô Đình H đã khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Vi Thị C.
Về con chung: Anh Lô Đình H và chị Vi Thị C không có con chung.
Về tài sản và khoản nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn chị Vi Thị C trong quá trình giải quyết vụ án chị đi làm ăn xa, công việc bận rộn không thể có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ việc được nên đã có đơn trình bày về việc yêu cầu ly hôn của anh Lô Đình H như sau: Chị Vi Thị C và anh Lô Đình H tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã XL, huyện TD, tỉnh Nghệ An vào ngày 14/01/2016, việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng sau này tính tình không hợp nhau, thường xuyên mâu thuẫn, hai bên không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Thấy rằng tình cảm vợ chồng không nên thống nhất về việc ly hôn của anh Lô Đình H.
Về con chung: Chị Vi Thị C và anh Lô Đình H không có con chung.
Về tài sản và khoản nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình để xử cho anh Lô Đình H và chị Vi Thị C được ly hôn nhau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở đánh giá khách quan các chứng cứ và lời trình bày của đương sự trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng: Anh Lô Đình H yêu cầu ly hôn với chị Vi Thị C có Hộ khẩu thường trú tại bản NC, xã HK, huyện KS, tỉnh Nghệ An nên căn cứ theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành tốt các quyết định của Tòa án. Nguyên đơn anh Lô Đình H và bị đơn chị Vi Thị C đều có đơn xin xét xử vắng mặt Tòa án vẫn mở phiên tòa xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của anh Lô Đình H là đúng quy định tại Điều 207 và Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự
Về hôn nhân: Anh Lô Đình H và chị Vi Thị C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vì vậy đây là hôn nhân hợp pháp, hiện nay anh Lô Đình H yêu cầu được ly hôn với chị Vi Thị C; Hội đồng xét xử nhận thấy rằng vợ chồng sống không hạnh phúc, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Như vậy chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn, tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần quyết định cho anh Lô Đình H và chị Vi Thị C được ly hôn nhau.
Về con chung: Anh Lô Đình H và chị Vi Thị C không có con chung.
Về tài sản và các khoản nợ: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Đây là vụ án về ly hôn, anh Lô Đình H là nguyên đơn nên phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu nộp án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Lô Đình H được ly hôn chị Vi Thị C;
2. Về con chung: Anh Lô Đình H và chị Vi Thị C không có con chung.
3. Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
4. Về án phí: Buộc anh Lô Đình H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001006 ngày 14/11/2023 tại Chị cục thi hành án huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
5. Về quyền kháng cáo: Tuyên bố nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Kỳ Sơn; - Chi cục THADS huyện Kỳ Sơn; - UBND xã XL, huyện TD; - Lưu hồ sơ; VP.TA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Hữu Lộc |