- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Huỳnh N yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Hải Đ"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 96/2023/HNGĐ-ST Ngày: 05-6-2023 V/v “Ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI, TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quang Minh Nghiêm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Lil, bà Đỗ Kim Phụng.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mộng Nghi là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải tham gia phiên toà: Ông Trần Đăng Khoa – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 233/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh năm 1995.
Địa chỉ: số nhà 175, ấp LL, xã ĐP A, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
Bị đơn: Anh Nguyễn Hải Đ, sinh năm 1995.
Địa chỉ: ấp CT, xã ĐT, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.
(Chị N vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh Đ vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 14/4/2023, trong quá trình tố tụng chị Nguyễn Thị Huỳnh N trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Đ chung sống vào năm 2019, hôn nhân tự nguyện, được cha mẹ tổ chức đám theo phong tục tại địa phương và có đến Ủy ban nhân dân xã ĐT, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu đăng ký kết hôn vào ngày 05/02/2020.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, có 01 con chung. Tuy nhiên, gần đây phát sinh mâu thuẫn, cãi nhau, cuộc sống không hạnh phúc. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là vợ chồng không cùng quan điểm, mỗi người có suy nghĩ, cách sống khác nhau. Anh Đ thường xuyên uống rượu, không quan tâm đến chị, không lo cho cuộc sống gia đình. Hiện nay chị và anh Đ sống ly thân khoảng 01 tháng, trong khoảng thời gian sống ly thân chị và anh Đ không gặp lại để hòa giải mâu thuẫn. Nay chị không còn tình cảm với anh Đ, tiếp tục chung sống không còn hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn.
Về con: Chị và anh Đ có 01 người con là Nguyễn Xuân T, sinh ngày 20/5/2021 đang sống cùng anh Đ. Khi ly hôn chị đồng ý giao con cho anh Đ tiếp tục nuôi dưỡng, không cấp dưỡng.
Về tài sản: Chị không yêu cầu giải quyết.
Anh Nguyễn Hải Đ vắng mặt trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nên không có lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu phát biểu: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định Luật tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đúng theo giấy triệu tập của Tòa án.
Nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Năm 2019, chị N và anh Đ tự nguyện yêu thương, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn, do đó hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Trong thời gian chung sống giữa chị N và anh Đ phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn. Xét thấy, hôn nhân của chị N và anh Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho chị N được ly hôn với anh Đ là phù hợp.
Về con: Người con Nguyễn Xuân T, sinh ngày 20/5/2021 đang sống cùng anh Đ. Khi ly hôn chị N tự nguyện giao con cho anh Đ nuôi nên ghi nhận.
Về tài sản: Chị không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí đương sự nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải về tuân theo pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Hải Đ, anh Đ có địa chỉ cư trú tại ấp CT, xã ĐT, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.
Chị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Đ được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham dự phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt chị N và anh Đ.
. Về nội dung:
. Về hôn nhân: Năm 2019, chị N và anh Đ tự nguyện yêu thương, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ĐT, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Trong thời gian chung sống giữa chị N và anh Đ phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng không cùng quan điểm, mỗi người có suy nghĩ, cách sống khác nhau, hiện nay chị N xác định mâu thuẫn giữa chị và anh Đ đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn nên yêu cầu ly hôn.
Hội đồng xét xử xét thấy: Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ. Tuy nhiên, qua thời gian chung sống giữa chị N và anh Đ không thực hiện được mà còn phát sinh nhiều mâu thuẫn và sống ly thân, trong thời gian sống ly thân anh chị không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau. Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Đ đến tham dự phiên hòa giải, phiên tòa Nng anh Đ vắng mặt không có lý do. Điều đó cho thấy hôn nhân của chị N và anh Đ đã lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu của chị N được ly hôn với anh Đ là phù hợp.
. Về con: Mặc dù người con Nguyễn Xuân T, sinh ngày 20/5/2021 đến nay chưa tròn 36 tháng tuổi, hiện nay sống cùng anh Đ. Tuy nhiên, khi ly hôn chị N đồng ý giao cho anh Đ tiếp tục nuôi dưỡng nên ghi nhận sự tự nguyện của chị N. Chị N có quyền, nghĩa vụ thăm con không ai được cản trở.
Chị N không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
. Về tài sản: Chị N không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
. Về án phí: Chị N nộp 300.000 đồng, được đối trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Huỳnh N được ly hôn với anh Nguyễn Hải Đ.
2. Về con chung: Giao người con Nguyễn Xuân T, sinh ngày 20/5/2021 cho anh Nguyễn Hải Đ tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Huỳnh N có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở.
Chị Nguyễn Thị Huỳnh N không đặt ra cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.
3. Về tài sản: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N nộp số tiền 300.000 đồng, chị Nguyễn Thị Huỳnh N đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0000145 vào ngày 21/4/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hải được chuyển thu án phí.
Án xử công khai, chị Nguyễn Thị Huỳnh N, anh Nguyễn Hải Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện Đông Hải; - Chi Cục THA.DS huyện Đông Hải; - UBND xã ĐT; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Quang Minh Nghiêm |