vanban.org

Bản án 96/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị L và anh Hà Văn L.

Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể: giao con chung Hà Thị Thảo, sinh ngày 06/10/2008 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Thảo tròn 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Hà Văn L do chị Nguyễn Thị L không yêu cầu. Anh Luậ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "khong công nhận là vợ chồng"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị L và anh Hà Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ANH SƠN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 26/7/2023 V/v ly hôn,
tranh chấp về nuôi con khi ly
hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ANH SƠN – TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hồng Lợi

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Tuyết Mai; Bà Phạm Thị Hồng Thảo.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Anh sơn, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn – Kiểm sát viên

Ngày 26/7/20123 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 77/2023/TLST – HNGĐ ngày 05/6/2023 về việc “Yêu cầu ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1971. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn 1/5, xã Cẩm Sơn, huyện Anh Sơn, Nghệ An.

2. Bị đơn: Anh Hà Văn L, sinh năm 1968. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn 1/5, xã Cẩm Sơn, huyện Anh Sơn, Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 15/01/2021, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày: Chị và anh Hà Văn L sống chung như vợ chồng từ năm 1991 trên cơ sở tự nguyện và được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán của địa phương nhưng không đăng ký kết hôn. Chị Lan và anh Luận chung sống hạnh phúc cho đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thiếu sự tôn trọng lẫn nhau. Hiện nay chị và anh Luận không còn tình cảm, đã ly thân và mỗi người tự lo cho cuộc sống riêng của mình nên chị Lan yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận là vợ chồng giữa chị và anh Hà Văn L.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị có 5 người con chung là Hà Văn Toàn, sinh năm 1991; Hà Thị Dung, sinh năm 1994; Hà Thị Hòa, sinh năm 1996; Hà Thị Ngân, sinh năm 1998 và Hà Thi Thảo, sinh năm 2008. Hiện nay cháu Toàn, cháu Dung, cháu Hòa và cháu Ngân đã đủ tuổi trưởng thành, đã lập gia đình và có cuộc sống riêng nên chị không yêu cầu giải quyết. Nếu ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Hà Thị Thảo và không yêu cầu anh Luận cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: chị và anh Luận thỏa thuận tự chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: Hiện nay vợ chồng không vay nợ cá nhân, cơ quan tổ chức nào cũng như không cho ai vay nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 10/6/2023, bị đơn anh Luận trình bày: Thống nhất về thời gian sống chung mà không tiến hành đăng ký kết hôn, thời gian nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng, con chung như chị Lan trình bày, hiện nay anh Luận và chị Lan không còn tình cảm, đã hết yêu thương nhau, hai người không còn sống chung với nhau nữa, mỗi người tự lo cho cuộc sống riêng của mình. Nay chị Lan yêu cầu ly hôn anh Luận đồng ý và đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị Lan được ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng anh Luận có 5 người con chung là Hà Văn Toàn, sinh năm 1991; Hà Thị Dung, sinh năm 1994; Hà Thị Hòa, sinh năm 1996; Hà Thị Ngân, sinh năm 1998 và Hà Thi Thảo, sinh năm 2008. Nếu ly hôn anh đề nghị giao con chung là Hà Thị Thảo cho chị Lan trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và anh xin tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: chị và anh Luận thỏa thuận tự chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: Hiện nay vợ chồng không vay nợ cá nhân, cơ quan tổ chức nào cũng như không cho ai vay nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án cháu Hà Thị Thảo trình bày: Cháu là con của bố Luận và mẹ Lan. Hiện nay cháu đang sống với mẹ là Nguyễn Thị L và cháu có nguyện vọng sống với mẹ nếu bố mẹ ly hôn.

Tại biên bản xác minh ngày 27/6/2023, Ủy ban nhân dân xã Cẩm Sơn cho biết: Anh Hà Văn L và chị Nguyễn Thị L về sống chung với nhau từ năm 1991, nhưng không tiến hành đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Hiện nay anh Luận và chị Lan đều có hộ khẩu thường trú tại thôn 1/5, xã Cẩm Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An. Từ khoảng cuối năm 2015 cuộc sống vợ chồng anh Luận và chị Lan có xảy ra mâu thuẫn, nhiều lần xẩy ra mâu thuẫn nay anh Luận và chị Lan đã sống ly thân với nhau. Quá trình chung sống với nhau, chị Lan và anh Luận có 05 người con chung là Hà Văn Toàn; Hà Thị Dung; Hà Thị Hòa; Hà Thị Ngân và Hà Thi Thảo. Hiện nay các cháu Toàn, Dung, Hòa, Ngân đã trưởng thành còn cháu Thảo đang sống cùng chị Lan.

Tại phiên Tòa đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Anh Sơn phát biểu ý kiến về vụ án và về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng trình tự tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện nghiêm túc quyền và nghĩa vụ của mình trong suốt quá trình điều tra, hòa giải và xét xử. Vụ án đã được thụ lý, điều tra và xét xử đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị L và anh Hà Văn L.

Về con chung: Giao con chung Hà Thị Thảo, sinh ngày 06/10/2008 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Hà Văn L.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luât.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Đây là vụ án hôn nhân gia đình về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn: bị đơn hiện cư trú tại thôn 1/5, xã Cẩm Sơn, huyện Anh Sơn nên Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn và bị đơn có tranh chấp về người trực tiếp nuôi con chưa thành niên khi ly hôn nên theo quy định, Tòa án xác minh nguyên nhân phát sinh tranh chấp tại UBND xã Cẩm Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 208 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Hà Văn L chung sống với nhau từ năm 1991 trên cơ sở tự nguyện và được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán của địa phương, nhưng không đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị không có giá trị pháp lý theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình, do đó không phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng theo khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình. Trong quá trình chung sống, giữa chị Lan và anh Luận thường phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính cách không phù hợp. Vì vậy mà hiện nay hai vợ chồng không còn sống chung với nhau nữa. Căn cứ vào khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình, xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị L và anh Hà Văn L.

Về con chung: Vợ chồng chị Lan và anh Luận có 05 người con chung là Hà Văn Toàn, sinh năm 1991; Hà Thị Dung, sinh năm 1994; Hà Thị Hòa, sinh năm 1996; Hà Thị Ngân, sinh năm 1998 và Hà Thi Thảo, sinh năm 2008, các cháu Toàn; Dung; Hòa; Ngân hiện nay đã trưởng thành và có cuộc sống riêng, đối với cháu Hà Thị Thảo chưa đến tuổi trưởng thành, hiện nay đang sống cùng chị Lan. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa các đương sự thống nhất giao cháu Thảo cho chị Lan trực tiếp nuôi. Thỏa thuận này của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm đạo đức xã hội, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.

Về tài sản chung: Do các đương sự đã tự thỏa thuận với nhau và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên căn cứ vào khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy

định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 14, Điều 16, khoản 2 Điều 53, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự. điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị L và anh Hà Văn L.

Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể: giao con chung Hà Thị Thảo, sinh ngày 06/10/2008 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Thảo tròn 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Hà Văn L do chị Nguyễn Thị L không yêu cầu.

Anh Luận có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Nếu anh Luận lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Lan có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Luận.

Chị Lan cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Luận trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Lan đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0000392 ngày 31 tháng 5 năm 2023.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ