vanban.org

Bản án 96/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận bà Bùi Thị Bích L và ông Phan Thái L1 là vợ chồng.

Về con chung: Giao cháu Phan Bùi Ngọc L2, sinh ngày 28/7/2014 cho bà L nuôi dưỡng, giáo dục, ông L1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Bà Bùi Thị Bích L yêu cầu không công nhận vợ chồng với ông Phan Thái L"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận bà Bùi Thị Bích L và ông Phan Thái L1 là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VĨNH LONG
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 12-12-2023
"V/v Không công nhận vợ chồng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Trường.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Võ Thị Mỹ Ngọc.

Ông Nguyễn Văn Cường.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Minh Bảo, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Dương Cẩm Hào, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 310/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Bích L, sinh năm 1976; địa chỉ: Số B, Khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (Có mặt).

- Bị đơn: Ông Phan Thái L1, sinh năm 1972; địa chỉ: Số G, đường T, Khóm F, Phường D, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 17/7/2023 và trong quá trình xét xử nguyên đơn bà Bùi Thị Bích L trình bày như sau:

Về hôn nhân: Bà L và ông L1 tự tìm hiểu được vài năm thì đi đến hôn nhân, không có tổ chức lễ cưới và bắt đầu chung sống như vợ chồng từ tháng 6/2007 nhưng không có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu chúng ông bà sống rất hạnh phúc đến tháng 12/2021 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do ông L1 không chăm lo gia đình, cờ bạc, không phụ giúp vợ con, mặc dù đã cố gắng hàn gắn khắc phục nhiều lần nhưng không thể tiếp tục chung sống được nữa. Bà L xác định hiện nay ông bà đã sống ly thân được 03 tháng, trong khoảng thời gian sống ly thân vợ chồng không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay bà L yêu cầu Tòa án không công nhận bà và ông L1 là vợ chồng.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, ông bà có 01 con chung tên Phan Bùi Ngọc L2, sinh ngày 28/7/2014, hiện nay đang sống chung với bà L. Khi ly hôn, bà L yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu ông L1 phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, bà L vẫn giữ nguyên các ý kiến đã trình bày và không bổ sung gì khác.

- Bị đơn ông Phan Thái L1 nhận được Thông báo thụ lý vụ án nhưng không có văn bản trả lời, không tham dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Tại phiên tòa, ông L1 được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long phát biểu ý kiến:

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử đều tuân theo đúng quy định pháp luật tố tụng, nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật của người tham gia tố tụng, tuy nhiên bị đơn chưa thực hiện đúng quy định pháp luật của người tham gia tố tụng, thời hạn đưa vụ án ra xét xử đúng quy định.

Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị:

Áp dụng các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 và khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 14, 53, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Không công nhận bà L và ông L1 là vợ chồng.

Về con chung: Giao cháu Phan Bùi Ngọc L2, sinh ngày 28/7/2014 cho bà L nuôi dưỡng. Ông L1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Buộc bà L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, bị đơn cư trú tại thành phố V được thụ lý phù hợp về thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông L1 được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông L1 là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Bà L và ông L1 tự tìm hiểu và đi đến hôn nhân, bắt đầu chung sống như vợ chồng từ tháng 6/2007 nhưng không có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của ông bà là không hợp pháp.

Xét hôn nhân của bà L và ông L1 được xác lập vào tháng 6/2007 là thời điểm Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 có hiệu lực thi hành và theo hướng dẫn tại điểm b khoản 3 Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000, Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 thì trong thời hạn hai năm kể từ ngày Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 có hiệu lực bà L và ông L1 phải thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, cho đến nay mặc dù đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng ông bà vẫn không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên hôn nhân của ông bà là không hợp pháp do đó không công nhận bà L và ông L1 là vợ chồng phù hợp theo quy định tại khoản 4 Điều 3 của Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 và Điều 9, khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung: Bà L xác định ông bà có 01 con chung tên Phan Bùi Ngọc L2, sinh ngày 28/7/2014. Bà L yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu ông L1 phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét điều kiện nuôi con: Xét thấy, từ khi ông bà sống ly thân thì cháu L2 do bà L chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến nay; ông L1 đã được Tòa án thông báo đối với yêu cầu nuôi con của bà L nhưng không có ý kiến đối với yêu cầu này. Do đó, để đảm bảo về chỗ ở ổn định, học tập, vui chơi, để đảm bảo sự phát triển về tâm sinh lý và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu L2 vì vậy chấp nhận yêu cầu của bà L là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Xét về nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà L không yêu cầu ông L1 cấp dưỡng nuôi con chung, ông L1 không có ý kiến và cũng không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Xét quan điểm trình bày của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long là có cơ sở chấp nhận.

Về án phí: Buộc bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, ông L1 không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 và điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, Điều 81, Điều 82 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Không công nhận bà Bùi Thị Bích L và ông Phan Thái L1 là vợ chồng.

2. Về con chung: Giao cháu Phan Bùi Ngọc L2, sinh ngày 28/7/2014 cho bà L nuôi dưỡng, giáo dục, ông L1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Buộc bà Bùi Thị Bích L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bà L được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí nộp ngày 28/7/2023 theo biên lai thu số N0 0002275 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long thành tiền án phí. Bà L đã nộp đủ.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ