- Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản Mai Thị Kim T - Võ Anh Q"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị Kim T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 123 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƢỜI TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 96/2023/DS-ST Ngày: 06-7-2023 “V/v tranh chấp dân sự về hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng mua bán tài sản và hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƢỜI,
TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: B Phạm Th Thi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Truyện
Ông Trần Văn Tuấn
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Th Xuân Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Sáng - Kiểm sát viên.
Trong các ng y 29 tháng 6 v ng y 06 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở To án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 481/2022/TLST-DS ng y 22 tháng 11 năm 2022, về việc “Tranh chấp dân sự về hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng mua bán tài sản và hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2023/QĐXXST-DS ng y 18 tháng 5 năm 2023 v Quyết định hoãn phiên tòa số 93/2023/QĐST-DS ngày 14 tháng 6 năm 2023, giữa:
- Nguyên đơn: Mai Th Kim T, sinh năm 1982 – Chủ Hộ kinh doanh Mai Thị Kim T.
Địa chỉ: Khóm D, thị trấn M, huyện T, Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của chị T: Anh Nguyễn Thanh L, sinh năm 1989; Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, Đồng Tháp. Theo văn bản ủy quyền ng y 24/5/2023.
- Bị đơn: Võ Văn T1, sinh năm 1962.
Võ Anh Q, sinh năm 1996.
Cùng địa chỉ: Ấp M, xã P, huyện T, Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của anh Q: Anh Trƣơng Nhật T2, sinh năm 1989; Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, Tiền Giang. Theo văn bản ủy quyền ng y 09/6/2023.
(Anh L, ông T1 có mặt; anh T2 có mặt ng y 29/6/2023;
vắng mặt ng y 06/7/2023 không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, ý kiến tại biên bản lấy lời khai, biên bản h a giải và tại phiên t a sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chị Mai Thị Kim T là anh Nguyễn Thanh L trình bày:
Trước đây, ông T1 và anh Q l khách h ng quen biết với chị T, có mua thức ăn nuôi cá của chị T rất nhiều lần, tính đến ng y 01/01/2019, thì anh Q và ông T1 còn nợ chị T tổng số tiền l 720.000.000 đồng, mỗi lần mua đều mua thiếu v ghi v o sổ theo dõi mua bán của chị T. Từ năm 2019 đến nay, chị T nhiều lần yêu cầu thanh toán số tiền n y, nhưng ông T1 và anh Q không thanh toán. Chị T có yêu cầu l m biên nhận nợ với số tiền l 720.000.000 đồng thì ông T1, anh Q mới yêu cầu chị T cho vay thêm số tiền 200.000.000 đồng nữa mới đồng ý l m giấy có nợ chị T số tiền l 720.000.000 đồng.
Ng y 04/8/2022, chị T, ông T1 và anh Q thống nhất l m hợp đồng thỏa thuận thế chấp quyền sử dụng đất, nội dung: Ông T1 và anh Q có nợ chị T số tiền mua thức ăn l 720.000.000 đồng, ông T1 và anh Q đồng ý thế chấp bản chính 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số bìa CĐ332368, số v o sổ cấp GCN CH03766, thửa 906, tờ bản đồ số 01, diện tích 5.500m2 v giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số bìa DG657861, số v o sổ cấp GCN CS08504, thửa số 139, tờ bản đồ số 18, diện tích 2.417,9m2. Chị T thống nhất cho ông T1 và anh Q mượn thêm số tiền 200.000.000 đồng, ng y 04/8/2022 chị T đã đưa số tiền 40.000.000 đồng cho ông T1 và anh Q, còn lại số tiền 160.000.000 đồng đến ng y 04/9/2022 chị T sẽ đưa tiếp cho anh Q và ông T1. Trong thời hạn 05 năm thì ông T1 và anh Q phải trả đủ cho chị T số tiền 860.000.000 đồng, nếu qua 05 năm kể từ ng y 04/8/2022, nếu ông T1 và anh Q không trả thì phải chuyển nhượng cho chị T thửa đất số 906, tờ bản đồ số 01, diện tích 5.500m2 mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước v diện tích ngang 5m, d i hết đất đối với thửa đất số 139, tờ bản đồ số 18, diện tích 2.417,9m2, loại đất ở tại nông thôn, còn lại số tiền 60.000.000 đồng trong thời hạn 01 năm đến ng y 04/8/2028 ông T1 và anh Q sẽ trả đủ cho chị T. Trong thời hạn 05 năm ông T1 và anh Q không được chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bên thứ ba. Nếu ông T1 và anh Q không thực hiện đúng theo thỏa thuận thì chị T có quyền khởi kiện v ông T1, anh Q phải chịu lãi theo ngân h ng kể từ ng y 01/01/2019.
Sau khi thỏa thuận xong thì ông T1 và anh Q đã đưa chị T giữ 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên. Trong thời gian n y, anh Q đã mượn lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất 139 để tách thửa cho người khác v hứa chừa lại phần đất hứa chuyển nhượng cho chị T, nhưng ông T1 và anh Q không giao trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị T.
Xét thấy, ông T1 và anh Q đã không thực hiện đúng theo thỏa thuận ng y 04/8/2022.
Theo đơn khởi kiện ng y 11/10/2022, chị T yêu cầu như sau: Chị T yêu cầu hủy hợp đồng thỏa thuận thế chấp quyền sử dụng đất ng y 04/8/2022 giữa chị T, ông T1 và anh Q; Buộc ông T1 và anh Q liên đới trả cho chị T số tiền mua thức ăn cá còn nợ gốc l 720.000.000 đồng v tiền lãi l 262.944.000 đồng (từ tháng 01/2019 đến tháng 9/2022, 44 tháng, với lãi suất 0,83%/tháng), tổng cộng gốc v lãi l 982.944.000 đồng v yêu cầu tiếp tục tính lãi từ tháng 10/2022 cho đến khi Tòa án ra bản án hoặc quyết định theo mức lãi suất 10%/năm v chịu lãi cho đến khi trả nợ xong; Buộc ông T1 và anh Q liên đới trả cho chị T số tiền l 40.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Tại phiên tòa, anh L l người đại diện theo ủy quyền của chị T xin thay đổi yêu cầu khởi kiện như sau: Chị T yêu cầu hủy hợp đồng thỏa thuận thế chấp quyền sử dụng đất ng y 04/8/2022 giữa chị T, ông T1 và anh Q; Buộc ông T1 và anh Q liên đới trả cho chị T số tiền mua thức ăn cá còn nợ gốc l 720.000.000 đồng v tiền lãi l 39.760.000 đồng (từ ng y 04/8/2022 đến ng y xét xử ng y 06/7/2023, với lãi suất 0,83%/tháng), tổng cộng gốc v lãi l 759.760.000 đồng; Buộc ông T1 và anh Q liên đới trả cho chị T số tiền vay còn nợ l 40.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Chị T đồng ý trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 906, tờ bản đồ số 01, diện tích 5.500m2 cho anh Q, ông T1.
Ngoài ra, anh L không còn trình b y hoặc yêu cầu gì khác.
- Theo ý ki n tại tờ t khai, văn b n ý ki n, biên b n hòa gi i và tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn ông Võ Văn T1 trình bày:
Đầu năm 2019 đến khoảng tháng 12/2019, ông có mua thức ăn nuôi cá của Cửa h ng K nhiều lần, anh T3 l người giao dịch với ông (anh T3 l chồng chị T) v nợ số tiền tổng cộng l 370.000.000 đồng, do không có khả năng chi trả, đến tháng 6/2020, anh T3 cùng với anh Lý Văn T4 đã đến gặp con ông l anh Q đưa ra đề nghị cho anh Q mượn thêm 350.000.000 đồng trả ngân h ng để chuộc 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 332368 v số DG 657861 vì anh Q đang thế chấp tại Ngân hàng P1, sau khi trả tiền ngân h ng thì anh T3 nhờ người tách thửa phần đất thổ cư cho từng hộ liên quan, trong đó có anh Q, anh Q sẽ đưa lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp cho anh T3 giữ để l m tin số tiền nợ thức ăn l 370.000.000 đồng v tiền vay trả ngân h ng l 350.000.000 đồng. Đồng thời, anh T3 hứa cho vay thêm 200.000.000 đồng. Trong hạn 05 năm gia đình ông phải trả tổng cộng l 920.000.000 đồng, nếu gia đình ông chưa trả được thì tính lãi từ ng y 01/01/2019 đối với số tiền n y v chuyển nhượng 01 phần đất thổ cư v phần đất nông nghiệp cho anh T3. Ông đồng ý thỏa thuận n y của anh T3, anh T4 đã nộp số tiền 353.659.000 đồng v o ng y 18/8/2020 để trả ngân hàng cho anh Q. Sau khi trả ngân h ng thì anh T3 giữ bản chính 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên. Sau đó anh T3 bị Công an bắt. Đến ng y 04/8/2022, chị T, ông và anh Q trao đổi v ký kết hợp đồng thỏa thuận thế chấp quyền sử dụng đất. Chữ ký T1 v dấu lăn tay trong hợp đồng n y l do chính ông ký v lăn tay. Tuy nhiên chị T không l m đúng theo hợp đồng không giao số tiền còn lại cho ông.
Ông đồng ý hủy hợp đồng thỏa thuận thế chấp quyền sử dụng đất ng y 04/8/2022 giữa ông, chị T với anh Q, ông đồng ý cùng anh Q trả cho chị T số tiền còn nợ l 720.000.000 đồng v không đồng ý trả lãi theo yêu cầu của chị T. Đồng thời, ông đồng ý trả cho chị T số tiền vay còn nợ l 40.000.000 đồng.
Ngoài ra, ông T1 không còn trình b y hoặc yêu cầu gì khác.
- Theo ý ki n tại văn b n ý ki n, đơn trình bày, biên b n hòa gi i và tại phiên tòa ngày 29/6/2023 anh Trương Nhật T2 là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh Võ Anh Q trình bày:
Đầu năm 2019 đến khoảng tháng 12/2019, cha anh Q là ông T1 có mua thức ăn nuôi cá của Cửa h ng K nhiều lần, anh T3 l người giao dịch mua bán với ông T1 (anh T3 l chồng chị T) v nợ số tiền tổng cộng l 370.000.000 đồng, do không có khả năng chi trả, đến tháng 6/2020, anh T3 cùng với anh Lý Văn T4 đã đến gặp anh Q đưa ra đề nghị cho anh Q mượn thêm 350.000.000 đồng trả ngân h ng để chuộc 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 332368 v số DG 657861 vì anh Q đang thế chấp tại Ngân hàng P1, sau khi trả tiền Ngân h ng thì anh T3 nhờ người tách thửa phần đất thổ cư cho từng hộ liên quan, trong đó có anh Q và anh Q sẽ đưa lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp cho anh T3 giữ để l m tin số tiền nợ thức ăn l 370.000.000 đồng v tiền vay để trả ngân h ng l 350.000.000 đồng. Đồng thời, anh T3 hứa cho vay thêm 200.000.000 đồng. Trong hạn 05 năm gia đình anh Q phải trả tổng cộng l 920.000.000 đồng, nếu gia đình anh Q chưa trả được thì tính lãi từ ng y 01/01/2019 đối với số tiền n y v chuyển nhượng 01 phần đất thổ cư của anh Q v phần đất nông nghiệp cho anh T3. Anh Q đồng ý thỏa thuận n y của anh T3, anh T3 đã cho anh T4 đến Ngân hàng P1 nộp số tiền 353.659.000 đồng v o ng y 18/8/2020 để trả ngân h ng cho anh Q. Sau khi trả tiền Ngân hàng thì anh T3 giữ bản chính 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên. Sau đó anh T3 bị Công an bắt. Đến ng y 04/8/2022, chị T, ông T1 và anh Q trao đổi v ký kết hợp đồng thỏa thuận thế chấp quyền sử dụng đất. Chữ ký Q v dấu lăn tay trong hợp đồng này là do chính anh Q ký v lăn tay. Tuy nhiên, chị T không l m đúng theo hợp đồng không giao số tiền còn lại cho anh Q và ông T1. Hiện tại chị T chỉ giữ của anh Q 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa số 906.
Tại đơn trình b y v bổ sung chứng cứ ng y 20/6/2023, anh Q đồng ý trả 350.000.000 đồng. Tại phiên tòa ng y 29/6/2023, anh T2 đại diện ủy quyền của anh Q chỉ đồng ý trả cho chị T số tiền 350.000.000 đồng nếu anh T4 xác định số tiền n y l của chị T, còn số tiền nợ thức ăn 370.000.000 đồng anh Q không đồng ý cùng ông T1 trả cho chị T vì l nợ riêng của ông T1. Ngoài ra, anh Q đồng ý trả cho chị T số tiền 40.000.000 đồng vay ng y 04/8/2022.
Ngoài ra, anh T2 không còn trình b y hoặc yêu cầu gì khác.
* Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười phát biểu về việc bảo đảm việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký v Hội đồng xét xử chấp h nh tốt pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến tại thời điểm trước khi Hội đồng xét xử v o nghị án, cũng như việc chấp h nh các quy định về tố tụng dân sự v thực hiện các quyền, nghĩa vụ về tố tụng dân sự của các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi Hội đồng xét xử v o nghị án, nguyên đơn v bị đơn ông T1 thực hiện đúng các quyền v nghĩa vụ theo quy định, bị đơn anh Q không tham gia phiên tòa dù đã được triệu tập hợp lệ l chưa chấp h nh đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, Viện kiểm sát không có ý kiến, kiến nghị gì.
- Về nội dung vụ án:
Căn cứ các Điều 430, 440, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án, để nghị Hội đồng xét xử.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T buộc ông T1, anh Q trả cho chị T số tiền 720.000.000 đồng v lãi 0,83%/tháng từ ng y 04/8/2022 đến khi xét xử l 39.760.000 đồng.
- Đình chỉ một phần yêu cầu tính lãi do nguyên đơn rút yêu cầu.
- Công nhận thỏa thuận của chị T, ông T1, anh Q về việc ông T1, anh Q phải trả cho chị T số tiền 40.000.000 đồng.
- Hủy hợp đồng thỏa thuận thế chấp quyền sử dụng đất ng y 04/8/2022 giữa chị T, ông T1 và anh Q. Chị T trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 906, tờ bản đồ số 01 cho ông T1, anh Q.
* Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án gồm:
- Nguyên đơn nộp các t i liệu, chứng cứ gồm:
+ Đơn khởi kiện ng y 11/10/2022 (bản chính).
+ Đơn đề nghị ng y 11/10/2022 (bản chính).
+ Hợp đồng thỏa thuận thế chấp quyền sử dụng đất (bản photo, bản chính).
+ Giấy chứng minh nhân dân (bản photo).
+ Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (bản photo, bản sao).
+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản photo).
+ Hợp đồng ủy quyền (bản chính).
+ Đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện (bản chính).
+ Đơn đề nghị sao chụp t i liệu, chứng cứ (bản chính).
+ Đơn xin hoãn phiên tòa (bản chính).
- Bị đơn nộp các t i liệu, chứng cứ gồm:
+ Tờ tự khai tên Võ Văn T1 (bản chính).
+ Đơn trình b y ý kiến tên Võ Anh Q (bản chính).
+ Hợp đồng thỏa thuận thế chấp quyền sử dụng đất (bản photo).
+ Giấy ủy quyền ng y 09/6/2023 (bản chính).
+ Đơn trình b y v bổ sung chứng cứ tên Võ Anh Q (bản chính).
+ Đơn trình b y tên Võ Văn T1 (bản chính).
+ Văn bản trình b y nội dung ghi âm (bản chính).
+ Đơn đề nghị miễn, giảm tiền án phí, lệ phí tên Võ Văn T1 (bản chính).
+ 01 (một) USB được bỏ tròn bì thư chuyển phát nhanh.
+ 02 Đơn đề nghị hoãn phiên tòa (bản chính).
+ Hợp đồng dịch vụ ng y 27/02/2023 (bản scan, bản photo).
+ Giấy nộp tiền của P1 ng y giao dịch 18/8/2020 (bản photo có chữ ký của anh Q).
+ Sổ bảo hiểm tên Võ Anh Q (bản sao).
+ Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động đối với anh Võ Anh Q (bản photo).
+ Giấy chứng nhận gia đình Liệt sĩ (bản scan).
+ Hợp đồng thỏa thuận ng y 04/8/2022 (bản photo).
- Tại liệu, chứng cứ Tòa án thu thập gồm:
+ Biên bản lấy lời khai của anh Võ Tấn N (bản chính).
+ Biên bản lấy lời khai của chị Mai Thị Kim T (bản chính).
Các t i liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã được công khai theo biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ng y 04 tháng 01 năm 2023 v tại phiên tòa.
* Các tình tiết, sự kiện trong vụ án các bên đương sự thống nhất: Ông T1, anh Q đồng ý liên đới trả cho chị T số tiền vay còn nợ l 40.000.000 đồng.
* Các tình tiết, sự kiện mà các bên đương sự không thống nhất: Chị T yêu cầu hủy hợp đồng thỏa thuận thế chấp quyền sử dụng đất ng y 04/8/2022 giữa chị T, ông T1 và anh Q; Buộc ông T1 và anh Q liên đới trả cho chị T số tiền mua thức ăn cá còn nợ gốc l 720.000.000 đồng v tiền lãi l 39.760.000 đồng (từ ng y 04/8/2022 đến ng y xét xử ng y 06/7/2023, với lãi suất 0,83%/tháng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy: Chị T yêu cầu Tòa án giải quyết hủy hợp đồng thỏa thuận thế chấp quyền sử dụng đất ng y 04/8/2022 giữa chị T, ông T1 và anh Q; buộc ông T1 và anh Q liên đới trả số tiền mua thức ăn còn nợ gốc v lãi; buộc ông T1 và anh Q liên đới trả số tiền vay còn nợ, không yêu cầu tính lãi. Ngo i ra, các đương sự không ai có yêu cầu n o khác nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật l tranh chấp dân sự về hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng mua bán t i sản v hợp đồng vay t i sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền, Hội đồng xét xử xét thấy: Tranh chấp trên giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 v điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thay đổi yêu cầu khởi kiện:
Theo đơn khởi kiện ng y 11/10/2022, chị T yêu cầu buộc ông T1 và anh Q liên đới trả tiền lãi của số tiền 720.000.000 đồng từ tháng 01/2019 đến tháng 09/2022, với số tiền 262.944.000 đồng, yêu cầu tiếp tục tính lãi từ tháng 10/2022 cho đến khi Tòa án ra bản án hoặc quyết định theo mức lãi suất 10%/năm v chịu lãi cho đến khi trả nợ xong. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn l anh L thay đổi yêu cầu khởi kiện về thời gian tính lãi v số tiền lãi, anh L yêu cầu tính lãi của số tiền 720.000.000 đồng từ ng y 04/8/2022 cho đến ng y 06/7/2023, với lãi suất 0,83%/tháng, với số tiền 39.760.000 đồng. Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của anh L không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu v không vượt quá phạm vi ủy quyền, căn cứ khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Theo Quyết định hoãn phiên tòa số 93/2023/QĐST-DS ngày 14/6/2023 của Tòa án thì Hội thẩm nhân dân chính thức l ông Lê Hoàng T5, bà Hồ Thị T6. Tuy nhiên, tại phiên tòa do ông T5, bà T6 bận công tác đột xuất nên không thể tham gia phiên tòa thay thế bằng ông Trần Văn T7 và ông Trần Văn T8 l Hội thẩm nhân dân dự khuyết. Đương sự có mặt thống nhất đồng ý việc thay đổi n y. Do đó, Hội đồng xét xử tiến h nh xét xử theo thủ tục chung.
Tại phiên tòa ng y 06/7/2023, người đại diện theo ủy quyền của anh Q là anh T2 mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử căn cứ v o điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh T2.
Về nội dung, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
Thứ nhất, anh L l người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn l chị T yêu cầu hủy hợp đồng thỏa thuận thế chấp quyền sử dụng đất ng y 04/8/2022 giữa chị T, ông T1 và anh Q.
Anh L cho rằng theo thỏa thuận thì ông T1, anh Q thế chấp cho chị T bản chính 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa CĐ 332368, số v o sổ cấp giấy chứng nhận CH03766, đối với thửa số 906, tờ bản đồ số 01 v giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa DG 657861, số v o sổ cấp giấy chứng nhận CS08504, đối với thửa 139, tờ bản đồ số 18 nhưng thực tế chỉ thế chấp cho chị T 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa CĐ 332368 v chị T đang giữ giấy chứng nhận n y. Tại phiên tòa, ông T1, anh T2 cũng thừa nhận có việc thỏa thuận thế chấp quyền sử dụng đất ng y 04/8/2022, thừa nhận chữ ký v dấu lăn tay trong hợp đồng n y l của ông T1 và anh Q, hiện tại chị T chỉ giữ 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình b y, đây l tình tiết không cần phải chứng minh theo Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét, hợp đồng thỏa thuận thế chấp quyền sử dụng đất ng y 04/8/2022 giữa chị T, ông T1 và anh Q thể hiện: Phần đất thuộc thửa số 906, tờ bản đồ số 01, địa chỉ thửa đất tại xã P, huyện T mà ông T1, anh Q dùng thế chấp cho chị T được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận ng y 02/8/2016, số v o sổ cấp GCN CH03766 cấp cho ông T1, ông Thái t cho anh Q vào ngày 03/7/2020 (Theo hồ sơ số 003766.TA.003). Do vậy, anh Q có đủ điều kiện thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo Điều 188 của Luật đất đaianh Q có quyền dùng t i sản n y để thế chấp theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, anh T2 không đồng ý hủy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ng y 04/8/2022 theo yêu cầu của chị T. Tuy nhiên, tại khoản 3 Điều 188 của Luật đất đai quy định “3. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính”. Xét thấy, việc thỏa thuận thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa chị T, ông T1 và anh Q l tự nguyện, tuy nhiên không được đăng ký tại Cơ quan đăng ký đất đai theo quy định của pháp luật nên Hợp đồng thỏa thuận thế chấp quyền sử dụng đất ng y 04/8/2022 giữa chị T, ông T1 và anh Q l vô hiệu theo quy định tại Điều 123 của Bộ luật dân sự. Do đó yêu cầu của nguyên đơn l có cơ sở chấp nhận.
Thứ hai, chị T yêu cầu ông T1 và anh Q liên đới trả cho chị T số tiền mua thức ăn cá còn nợ gốc l 720.000.000 đồng v tiền lãi l 39.760.000 đồng (từ ng y 04/8/2022 đến 06/7/2023, với lãi suất 0,83%/tháng), tổng cộng gốc v lãi l 759.760.000 đồng.
Đối với yêu cầu trả tiền thức ăn cá còn nợ gốc l 720.000.000 đồng: Anh L cho rằng ông T1 và anh Q có mua thức ăn nuôi cá của chị T nhiều lần, tính đến ngày 01/01/2019 ông T1, anh Q còn nợ số tiền l 720.000.000 đồng. Đến ng y 04/8/2022, ông T1, anh Q xác nhận còn thiếu chị T số tiền mua thức ăn cá tổng cộng l 720.000.000 đồng, được thể hiện trong hợp đồng thỏa thuận thế chấp quyền sử dụng đất ng y 04/8/2022, các giấy tờ mua bán chị T đã bỏ mất. Từ lúc xác nhận nợ đến nay ông T1, anh Q chưa trả cho chị T số tiền n y. Tại phiên tòa, ông T1 đồng ý trả số tiền n y cho chị T, còn anh T2 đại diện cho anh Q tại phiên tòa ng y 29/6/2023 thừa nhận trong năm 2019, ông T1 có mua thức ăn của Cửa hàng K và còn nợ số tiền l 370.000.000 đồng, còn lại 350.000.000 đồng l tiền anh Q mượn để trả tiền vay ngân h ng, không phải tiền nợ thức ăn, tổng cộng l 720.000.000 đồng. Tuy nhiên anh T2 không có t i liệu, chứng cứ chứng minh cho lời trình b y của mình. Xét thấy, lời trình b y trên của anh L l có cơ sở v việc ông T1, anh Q có mua thức ăn của chị T l có thật, vì ng y 04/8/2022, ông T1 và anh Q có lập hợp đồng thỏa thuận thế chấp quyền sử dụng đất, nội dung ông T1, anh Q còn nợ chị T 720.000.000 đồng tiền thức ăn cá từ năm 2019. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy lời trình b y v yêu cầu của nguyên đơn l có cơ sở chấp nhận.
Đối với yêu cầu tính lãi từ ng y 04/8/2022 đến ng y 06/7/2023, lãi suất 0,83%/tháng, với số tiền 39.760.000 đồng. Tại phiên tòa, ông T1, anh T2 không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn, vì theo thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ng y 04/8/2022, chị T đồng ý không tính lãi trong thời hạn 05 năm. Xét thấy, ng y 04/8/2022 ông T1, anh Q thừa nhận còn nợ số tiền mua thức ăn cá l 720.000.000 đồng đến nay ông T1, anh Q chưa trả cho chị T. Nay chị T chỉ yêu cầu về lãi suất theo trường hợp ông T1, anh Q chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền tính từ ng y 04/8/2022 đến ng y xét xử ng y 06/7/2023 l 11 tháng 02 ng y, với lãi suất 0,83%/tháng, nhưng chị T chỉ yêu cầu số tiền lãi l 39.760.000 đồng l phù với quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy lời trình b y v yêu cầu của nguyên đơn l có cơ sở chấp nhận.
Thứ ba, chị T yêu cầu ông T1 và anh Q liên đới trả cho chị T số tiền vay ng y 04/8/2022 còn nợ l 40.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi:
Tại phiên tòa ông T1, anh T2 l người đại diện theo ủy quyền của anh Q thừa nhận có vay số tiền n y của chị T v đồng ý trả số tiền n y. Xét thấy, việc thỏa thuận của các đương sư l tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, nên Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận giữa chị T, ông T1 và anh Q.
Chị T không yêu cầu tính lãi đối với số tiền 40.000.000 đồng, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về hậu quả của hợp đồng thỏa thuận thế chấp quyền sử dụng đất ng y 04/8/2022 giữa chị T, ông T1 và anh Q vô hiệu:
Theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 131 của Bộ luật dân sự:
“1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.
2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận”
Tại phiên tòa, anh L trình b y chị T đồng ý trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa CĐ 332368, số v o sổ cấp GCN CH03766, đối với thửa số 906, tờ bản đồ số 01, địa chỉ thửa đất tại xã P, huyện T, Đồng Tháp cho anh Q, ông T1, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với yêu cầu triệu tập anh Nguyễn Trung T9 (chồng chị T) ra đối chất, phục vụ xét xử trong vụ án. Xét thấy, việc ông T1, anh T2 trình bày ông T1 l người mua v nợ số tiền thức ăn l 370.000.000 đồng v anh T9 cho anh Q mượn số tiền 350.000.000 đồng để chuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp tại Ngân h ng. Tại phiên tòa, anh L khẳng định số tiền mua thức ăn cá mà ông T1, anh Q nợ l 720.000.000 đồng, việc cho mượn 350.000.000 đồng để chuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như ông T1, anh Q trình bày là không có. Đồng thời, anh Q, ông T1 cũng không cung cấp được t i liệu, chứng cứ chứng minh cho lời trình b y của mình. Ngo i ra, theo lời trình b y của anh L thì ngày 30/9/2022 anh T9 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt “Tử hình” về các tội “Tham ô t i sản”; “L m giả con dấu, t i liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu, t i liệu giả của cơ quan, tổ chức” v tội “Đánh bạc”, đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. Căn cứ các t i liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết lấy lời khai v triệu tập anh T9.
Đối với việc ông T1, anh T2 đại diện cho anh Q trình b y số tiền ông T1 nợ thức ăn cá của chị T l 370.000.000 đồng, 350.000.000 đồng l tiền mượn để trả Ngân h ng, ông T1 có cung cấp một giấy nộp tiền ng y 18/8/2020. Hội đồng xét xử xét thấy lời trình b y n y l không có cơ sở, vì nội dung hợp đồng thỏa thuận thế chấp quyền sử dụng đất ng y 04/8/2022 nêu rõ số tiền 720.000.000 đồng l nợ tiền thức ăn cá từ năm 2019, đồng thời giấy nộp tiền m ông T1 cung cấp không có xác nhận của ngân h ng v thời gian nộp tiền l ng y 18/8/2020. Ngoài ra, ông T1, anh Q cũng không có chứng cứ n o khác để chứng minh cho lời trình b y của mình.
Từ những phân tích trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn l có căn cứ v phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên hòa giải v phiên tòa sơ thẩm thì đương sự có mặt xác định ngo i lời trình b y v các chứng cứ đã nộp cho Tòa án ra thì đương sự có mặt không còn chứng cứ n o khác để chứng minh cho yêu cầu của mình v cũng không yêu cầu Tòa án thu thập thêm chứng cứ n o khác. Ngo i ra, cũng không còn yêu cầu gì khác.
Về án phí:
- Chị T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm v được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- Ông T1 và anh Q phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, do ông T1 l người cao tuổi v l thân nhân của Liệt sĩ Võ Văn P nên được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án.
Từ những phân tích như trên, xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười l có 01 phần căn cứ v phù hợp, nên Hội đồng xét xử chấp nhận 01 phần.
Riêng về đề nghị đình chỉ một phần yêu cầu tính lãi do nguyên đơn rút yêu cầu. Như phân tích ở phần trên, Hội đồng xét xử xác định đối với việc thay đổi thời gian tính lãi v số tiền lãi yêu cầu l sự thay đổi yêu cầu khởi kiện, không phải rút một phần yêu cầu khởi kiện. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị n y của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 123, khoản 2 Điều 357, Điều 430, Điều 440, Điều 463, Điều 466 v Điều 468 của Bộ luật dân sự; Điều 188 của Luật đất đai Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 235, khoản 1 Điều 244, Điều 246, Điều 271 v Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị Kim T.
Tuyên bố hợp đồng thỏa thuận thế chấp quyền sử dụng đất ng y 04/8/2022 giữa chị Mai Thị Kim T, ông Võ Văn T1 và anh Võ Anh Q vô hiệu.
Buộc ông Võ Văn T1 và anh Võ A Q liên đới trả cho chị Mai Thị Kim T số tiền mua thức ăn còn nợ gốc l 720.000.000 đồng v tiền lãi l 39.760.000 đồng, tổng cộng l 759.760.000 đồng (Bảy trăm năm mươi chín triệu, bảy trăm sáu mươi nghìn đồng).
Công nhận sự thỏa thuận của chị Mai Thị Kim T, ông Võ Văn T1 và anh Võ Anh Q: Ông Võ Văn T1 và anh Võ A Q đồng ý liên đới trả cho chị Mai Thị Kim T số tiền vay còn nợ l 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).
Kể từ ng y có đơn yêu cầu thi h nh án m bên phải thi h nh án chưa thi h nh xong số tiền trên, thì h ng tháng bên phải thi h nh án còn phải chịu lãi trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi h nh án đến khi thi h nh xong.
Buộc chị Mai Thị Kim T trả cho anh Võ Anh Q, ông Võ Văn T1 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số bìa CĐ 332368, số v o sổ cấp GCN CH03766, đối với thửa số 906, tờ bản đồ số 01, địa chỉ thửa đất tại xã P, huyện T, Đồng Tháp.
2. Về án phí:
- Chị Mai Thị Kim T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, ho n trả lại cho chị T 21.644.000 đồng (Hai mươi mốt triệu, sáu trăm bốn mươi bốn nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp theo biên lai số 0008136 ng y 12/10/2022 của Chi cục thi h nh án dân sự huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.
- Anh Võ Anh Q phải chịu 17.995.000 đồng (Mười bảy triệu, chín trăm chín mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Võ Văn T1 phải chịu 17.995.000 đồng (Mười bảy triệu, chín trăm chín mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng, do ông T1 là người cao tuổi v l thân nhân của Liệt sĩ Võ Văn P nên được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án n y lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 (mười lăm) ng y kể từ ng y tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 (mười lăm) ng y kể từ ng y bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án Tỉnh; - VKS huyện Tháp Mười; - CCTHADS huyện Tháp Mười; - Lưu hồ sơ vụ án: (Ho ng). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Th Thi |