vanban.org

Bản án 96/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An Tuyên án 26/10/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Tr phạm tội "Trộm cắp tài sản";

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Tr 06 (Sáu ) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một ) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (27 tháng 10 năm 2022). Giao bị cáo Nguyễn Thị Tr cho Ủy ban nhân dân xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An giám sát và giáo dục trong thời gian thửa thách. Gi…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Tr phạm tội - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Tr phạm tội "Trộm cắp tài sản";
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHI LỘC
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2022/HSST
Ngày: 27 - 10 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có;

- Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hải Dương

- Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Thư và bà Nguyễn Thị Xoan

ơ

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Ký - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.

- Đại diệ n Việ n kiể m sá t nhâ n dâ n huyệ n Nghi Lộ c, tỉnh Nghệ An tham gia phiê n tò a : Bà Nguyễn Thị Mão – Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 10 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tØnh NghÖ An xét xử sơ thẩm cung khai vụ án hình sự thụ lý số 99/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị Tr; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 18 tháng 8 năm 2003, tại huyện H Ng, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm 3-4, xã H Tr, huyện H Ng, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12 Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị L; Bị cáo chưa có chồng; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Bị hại: Chị Nguyễn Thị Hạnh L, sinh năm 2004

Địa chỉ: xóm L H, xã Ng D, huyện Ng L, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

Nội dung vụ án:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung được tóm tắt như sau: Nguyễn Thị Tr và chị Nguyễn Thị Hạnh L đều là công nhân Công ty may mặc Q V đóng tại xóm 3, xã Ng Tr, huyện Ng L, tỉnh Nghệ An. Khoảng 17 giờ ngày 19 tháng 8 năm 2022, sau khi tan ca, Tr xin đi nhờ xe của chị L để về nhà. Chị L đồng ý và giao xe mô tô nhãn hiệu Sirius, biển kiểm soát 37N7-7444 cho Tr điều khiển, chở chị L ngồi phía sau. Đi được khoảng 500 mét, Tr thấy có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 màu đỏ của chị L để trong túi xách màu đỏ treo ở móc đầu xe mô tô nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại. Tr dùng tay trái lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi áo bên trái của mình cất giấu. Khi về đến nhà mình tại xóm 3-4, xã H Tr, huyện H Ng, tỉnh Nghệ An, Tr tắt nguồn điện thoại và cất giấu trong phòng ngủ. Khoảng 01 giờ đồng hồ sau, chị L phát hiện mất điện thoại nên đã đến hỏi Tr nhưng Tr không thừa nhận đã lấy chiếc điện thoại.

Ngày 28 tháng 8 năm 2022, chị Nguyễn Thị Hạnh L đến Công an xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc trình báo sự việc. Đến1 4 giờ cùng ngày, Nguyễn Thị Tr đến Công an huyện Nghi Lộc đầu thú, giao nộp lại chiếc điện thoại đã chiếm đoạt của bị hại và khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại Kết luận định giá tài sản số 27/KL.ĐG ngày 31 tháng 8 năm 2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân huyện Nghi Lộc, kết luận: "Chiếc điện thoại iPhone 11, màu đỏ, đã qua sử dụng của chị Nguyễn Thị Hạnh L có trị giá 7.500.000 đồng (Bảy triệu, năm trăm nghìn đồng) .

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại như Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về các Quyết định cũng như hành vi của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đối với vụ án.

Bản cáo trạng số 103/CT-VKS-NL ngày 13 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Tr về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thị Tr và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Tr từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thửa thách từ 12 tháng đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ; Về hình phạt bổ sung : Do bị cáo không có thu nhập ổng định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo ;

Bị cáo không tranh luận và không có ý kiến gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật nên mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của bị hại, thấy rằng: Bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa, nhưng xét thấy việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử vì quá trình điều tra, truy tố đã có lời khai đầy đủ. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tung hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.

Về tội danh, khung hình phạt: Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng và ý kiến trình bày luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hoàn toàn thống nhất, khách quan, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, kết luận định giá tài sản và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ căn cứ xác định: Khoảng 17 giờ ngày 19 tháng 8 năm 2022, tại khu vực xóm 3, xã Ng Tr, huyện Ng L, tỉnh Nghệ An, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, Nguyễn Thị Tr đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Hạnh L 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 màu đỏ có trị giá 7.500.000 đồng (Bảy triệu, năm trăm nghìn đồng). Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về hình phạt chính: Tội phạm thuộc loại ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Ngoài ra còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây lo lắng trong quần chúng nhân dân nơi xảy ra tội phạm. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng mức án phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để quyết định hình phạt. Bị cáo là người mới trưởng thành nên khi thực hiện hành vi phạm tội, khả năng nhận thức về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội còn hạn chế, là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đồng thời bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình giám sát là đủ nghiêm.

Về các vấn đề khác:

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản do bị cáo đã chiếm đoạt, không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Tr phạm tội "Trộm cắp tài sản";

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Tr 06 (Sáu ) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một ) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (27 tháng 10 năm 2022).

Giao bị cáo Nguyễn Thị Tr cho Ủy ban nhân dân xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An giám sát và giáo dục trong thời gian thửa thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Hưng Trung trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Nguyễn Thị Tr thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 của Luật thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Thị Tr phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ