- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh Q - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355;điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 96/2022/HS-PT Ngày 07 tháng 12 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- THnh phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Điêu Thị Bích Lượt
Các Thẩm phán:
Ông: Tạ Văn THnh
Ông: Phạm Văn Toàn
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Hoàng Thanh Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân (TAND) tỉnh Phú Thọ, đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 65/2022/TLPT-HS ngày 03/10/2022. Do có kháng cáo của chị Vương Thị N là đại diện cho bị cáo Nguyễn M Q đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2022/HSST ngày 15/8/2022 của TAND huyện H tỉnh Phú Thọ.
Bị cáo: Nguyễn M Q; Sinh ngày: 08/8/2005 tại huyện H, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu 15, xã X, huyện H, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Nghề ngH: Học Sinh; Con ông: Nguyễn Văn H, sinh năm 1983 và bà Vương Thị N, sinh năm 1985; Vợ, con: chưa có; Anh chị em ruột: có 02 người, bị cáo là thứ nhất;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam. Hiện đang tại ngoại tại xã X, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
*. Người bào chữa cho bị cáo: Bà Bùi Thị Thanh N, trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Phú Thọ (Có mặt).
*. Người đại diện cho bị cáo: Bà Vương Thị N, sinh năm 1985; địa chỉ: khu 15, xã X, huyện H, tỉnh Phú Thọ (Có mặt).
- Bị hại: Anh Nguyễn Nhật M, sinh năm 2006; địa chỉ: khu 7, xã X, huyện H, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt).
Người đại diện cho bị hại: Bà Nguyễn Hồng T, sinh năm 1977; địa chỉ: khu 7, xã X, huyện H, tỉnh Phú Thọ (Có mặt).
- Người liên quan:
1. Anh Bùi Hữu Dược H, sinh năm 1997; địa chỉ: khu 6, xã X, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
2. Anh Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1996; địa chỉ: khu 6, xã X, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
(Những người liên quan vắng mặt tại phiên tòa).
Đại diện cho bị cáo bà Vương Thị N kháng cáo
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 11/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện H nhận được tố giác của bà Nguyễn Hồng T sinh năm 1977 ở khu 7 xã X, huyện H về việc tối ngày 10/12/2021, con trai bà là Nguyễn Nhật M bị Nguyễn M Q dùng dao chém gây thương tích.
Sau khi tiếp nhận nguồn tin, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện H đã T Hnh kiểm tra xác M làm rõ nội dung vụ án như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 10/12/2021, tại quán bán Hng của anh Bùi Hữu Dược H sinh năm 1997 ở khu 6, xã X, huyện Hạ Hoà (trước cổng trường THPT X) có 02 nhóm thanh niên ngồi ăn, uống rượu. Nhóm 1 gồm: Nguyễn M Q sinh ngày 08/8/2005, Đặng Văn C sinh năm 2005, Trần Ngọc M L sinh năm 2004 cùng ở xã X; Nguyễn M Đ sinh năm 2004 ở xã H; Nguyễn Mạnh H sinh năm 2004 ở xã V cùng một số người khác. Nhóm 2 gồm: Nguyễn Xuân K sinh năm 2003 ở xã H; Nguyễn Nhật M sinh ngày 25/11/2005, H Việt T, Ngô Xuân B, Nguyễn Q V đều sinh năm 2005, Ngô Ngọc H sinh năm 2003, Nguyễn Dương Q sinh năm 2006 cùng ở xã X. Quá trình ăn uống, H Việt T và Ngô Xuân B sang chỗ nhóm 1 giao lưu và ở lại uống rượu cùng. Đến khoảng 21 giờ 30 phút, những người còn lại của nhóm 2 ăn xong, thanh toán tiền rồi đi sang cầu Hạ Hoà chơi. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, H đi về nH còn K, M, Q, V quay về ngồi uống nước tại quán 1998 của anh Nguyễn Mạnh H sinh năm 1996 (đối diện nơi nhóm 1 đang ngồi). Lúc này, có một người đàn ông sang mời rượu nhóm 1, thấy người này đã say nên những người ở nhóm 1 không đồng ý uống rượu cùng và đứng dậy để bảo người đàn ông về bàn của mình rồi B đưa người này về chỗ ngồi. Khi thấy mọi người nhóm 1 đứng dậy, tưởng T và B là người đi cùng mình bị đánh nên K cầm theo 01 ống điếu của quán nước cùng Q, V, M chạy sang chỗ nhóm 1 đứng. K cầm ống điều vụt trúng lưng Đ. Bị đánh, Đ, H liền lấy ghế nhựa ném về phía K nhưng không trúng. M lao vào dùng tay đấm vào mặt và vai trái H. H giơ tay lên đỡ rồi cúi xuống lấy 01 con dao màu trắng loại dùng để gọt hoa quả mà H mang sẵn từ trước để dưới gầm bàn chỗ nhóm 1 ngồi nhưng được L cản lại. Ngay sau đó, bà Nguyễn Thị H sinh năm 1975 ở khu 11 xã X là mẹ đẻ anh H chạy lại giằng lấy dao từ tay H rồi để ở dưới xe ba gác chở đồ của anh H. Mọi người can ngăn, K, Q, V, M quay lại quán 1998. Sau đó M và V mỗi người lên một xe máy rời đi. Khoảng vài phút sau, M quay lại cầm theo 01 gậy gỗ, V cầm theo 01 con dao quắm có lưỡi dao dài khoảng 30cm, chuôi dao được Hn bằng sắt, (V không nhớ lấy của ai, ở đâu) đi sang chỗ nhóm 1 đang đứng. M cầm gậy dồn đánh H, H bỏ chạy sang quán nước 1998 thì bị K đấm vào mặt. Trong lúc xô xát, Q giằng được con dao từ V nhưng bị B lao vào giật lại được rồi vứt xuống gần bàn ăn. Q đi lại nhặt con dao này rồi cầm trên tay phải, đi vòng qua chiếc ô tô đang dừng đỗ gần đó và đi về phía M. Lúc này, M đang đi hướng từ cổng trường THPT X ra đường huyện 66. Khi đi đến mép đường thì M quay lại quan sát, nhìn thấy Q cầm dao trên tay nên chạy lại đánh Q. Q cũng lao dùng dao chém nhiều nhát về phía M. Trong những lần chém đã chém trúng bàn tay phải làm đứt lìa ngón trỏ của M. Sau đó Q và M lao vào ôm nhau, Chiến lao lại đấm M 02 nhát vào người còn B lấy ghế nhựa vụt vào người M. Sau đó mọi người can ngăn nên tất cả giải tán, M được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện Hạ Hoà rồi chuyển đến Bệnh viện Trung ương Q đội 108 phẫu thuật. Sau phẫu thuật M được chuyển về Trung tâm y tế huyện H điều trị đến ngày 20/12/2021 ra viện.
Sau khi nhận được tin báo, Cơ quan điều tra đã T Hnh khám nghiệm hiện trường đồng thời thu giữ 01 đoạn gậy gỗ hình hộp chữ nhật có chiều dài 67cm, đầu to kích thước 2,3 x 2,3cm, đầu nhỏ kích thước 1,8 x 2cm. Cơ quan điều tra cũng đã T Hnh truy tìm 02 con dao mà các đối tượng sử dụng đánh, chém nhau nhưng không thu giữ được. Ngoài ra còn tạm giữ 01 ghế nhựa màu xanh của anh Bùi Hữu Dược H, 01 ống điếu bằng gỗ của anh Nguyễn Mạnh H.
Ngày 14/01/2022, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Hạ Hoà đã T Hnh trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Nguyễn Nhật M và cơ chế hình tHnh thương tích.
Tại bản KLGĐ pháp y về thương tích số 07 ngày 18/01/2022 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Phú Thọ kết luận:
“Mu bàn tay phải có 03 vết sẹo màu hồng, mép vết sẹo gọn: Vết sẹo số 01 chạy chéo có KT 5,5 x 0,2cm. Vết sẹo số 02 ở kẽ ngón II, III có KT 02 x 0,1cm. Vết sẹo số 03 sát gốc đốt 1 ngón III có KT 1,5 x 0,1cm. Ngón II bàn tay phải cắt cụt ngón sát khớp đốt bàn ngón. Vận động gấp duỗi ngón III bàn tay phải đau.
Căn cứ kết quả giám định:
- Vết sẹo số 1: 02%.
- Vết sẹo số 2 (sẹo phẫu thuật): 01%.
- Vết sẹo số 3 (sẹo phẫu thuật): 01%.
- Mất trọn ngón II bàn tay phải: 11%.
Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư: 14,51%.
Làm tròn: 15%.
Kết luận:
- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Nhật M là 15%.
- Cơ chế hình tHnh thương tích:
+ Vết sẹo số 1 bàn tay phải, mất trọn ngón II bàn tay phải: Do tác động của vật sắc gây nên.
+ Vết sẹo số 2, 3 bàn tay phải: Do bác sỹ phẫu thuật để điều trị".
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn M Q đã thừa nhận Hnh vi dùng dao chém gây thương tích cho Nguyễn Nhật M như đã nêu trên. Lời khai của Q phù hợp với lời khai bị hại, những người liên quan, người làm chứng và các tài liệu điều tra thu thập được. Nguyên nhân, động cơ phạm tội xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ, có phần lỗi của người bị hại.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2022/HSST ngày 15/8/2022 của TAND huyện H, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90, 91, khoản 1 Điều 101; điểm a khoản 1 Điều 47; Điều 38 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590, Điều 357 Bộ luật dân sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn M Q phạm tội "Cố ý gây thương tích".
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn M Q 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi Hnh án.
Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, quyền yêu cầu thi Hnh án, án phí và các nội dung khác.
Ngày 23/6/2022, bà Vương Thị N là đại diện cho bị cáo Nguyễn M Q kháng cáo xin cho bị cáo được hưởng án treo
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bà Vương Thị N là đại diện cho bị cáo Nguyễn M Q giữ nguyên kháng cáo cung cấp thêm cho Hội đồng xét xử tình tiết giảm nhẹ mới sau khi xét xử sơ thẩm gia đình bị cáo đã tích cực bồi thường cho bị hại toàn bộ số tiền theo quyết định của bản án sơ thẩm và đại diện cho bị hại xin giảm cho bị cáo 03 tháng tù. Đại diện cho bị cáo xuất trình cho tòa án giấy xác nhận của giáo viên chủ nhiệm của bị cáo Q trong thời gian bị cáo học tập trong nH trường bị cáo luôn chấp Hnh tốt nội quy, quy định của trường, lớp.
Đại diện cho bị hại không nhất trí với kháng cáo của đại diện bị cáo, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo 03 tháng tù.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Tại phiên tòa mẹ bị cáo xuất trình thêm tình tiết mới sau khi xét xử sơ thẩm gia đình bị cáo đã tích cực bồi thường toàn bộ phần trách nhiệm dân sự theo quyết định của bản án sơ thẩm cho bị hại thay cho bị cáo và đại diện cho bị hại xin giảm cho bị cáo 03 tháng tù. Tại phiên tòa đại diện cho bị cáo xuất trình cho tòa án giấy xác nhận của giáo viên chủ nhiệm của bị cáo Q trong thời gian bị cáo học tập trong nH trường bị cáo luôn chấp Hnh tốt nội quy, quy định của trường, lớp. Bị cáo phạm tôi khi mới chưa đủ 17 tuổi, phạm tội có một phần lỗi của bị hại, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355,điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận đơn kháng cáo của đại diện cho bị cáo, sửa bản án sơ thẩm cho bị cáo Q được hưởng án treo. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn M Q 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng, thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án phúc thẩm.
Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận; trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định, đơn hợp lệ được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về những chứng cứ xác định bị cáo có tội: Tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm bị cáo đều khai nhận đã có Hnh vi phạm tội nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ xác định:
Khoảng 22 giờ 54 phút ngày 10/12/2021, tại quán bán Hng của anh Bùi Hữu Dược H, sinh năm 1997, địa chỉ: ở khu 6, xã X, huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Nhật M sinh ngày 25/11/2005 và Nguyễn M Q sinh ngày 08/8/2005 xảy ra xô xát đánh nhau. Q đã dùng dao quắm chém trúng bàn tay phải M gây thương tích đứt ngón II bàn tay phải. Kết luận giám định xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của M là 15%. Do đó, Hnh vi của bị cáo Nguyễn M Q đã đủ yếu tố cấu tHnh tội: “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hnh vi của của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, Hnh vi đó xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, xử phạt bị cáo 18 tháng tù là phù hợp với pháp luật. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Bị cáo đang ở độ tuổi chưa tHnh niên, độ tuổi tâm, sinh lý chưa phát triển đầy đủ, đang là học sinh nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Bị cáo không có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt, sau khi phạm tội tHnh khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội có một phần lỗi của người bị hại. Sau khi xét xử sơ thẩm gia đình bị cáo đã tích cực bồi thường toàn bộ phần trách nhiệm dân sự cho bị hại, đại diện cho bị hại có đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, được cô giáo chủ nhiệm và nH trường xác nhận trong quá trình học tập bị cáo chấp Hnh tốt nội quy, quy định của trường, lớp. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận đơn kháng cáo của đại diện bị cáo Q sửa bản án sơ thẩm cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội, áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo tạo điều kiện cho bị cáo tiếp tục đi học, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở tHnh công dân có ích cho xã hội thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật đối với người chưa tHnh niên phạm tội. Việc sửa bản án sơ thẩm xác định lỗi khách quan không phải chủ quan của thẩm phán.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ và trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng án treo, xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và trợ giúp viên pháp lý phù hợp với pháp luật nên được chấp nhận.
Án phí phúc thẩm: Kháng cáo của đại diện cho bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị .
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355;điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của đại diện cho bị cáo Nguyễn M Q. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2022/HSST ngày 15/8/2022 của TAND huyện H, tỉnh Phú Thọ.
[2] Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, 91, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo: Nguyễn M Q phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn M Q 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 36 tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Bị cáo Nguyễn M Q phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi Hnh án hình sự.
Giao bị cáo Nguyễn M Q cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện H, tỉnh Phú Thọ nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.
Gia đình bị cáo Q có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thêi gian thử thách của án treo.
Trong trường hợp bị cáo Nguyễn M Q thay đổi nơi cư trú thì Ủy ban nhân dân xã X, huyện H, tỉnh Phú Thọ có trách nhiệm thông báo cho cơ quan có thẩm quyền biết theo quy định tại Luật thi Hnh án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp Hnh hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp thực hiện Hnh vi pham tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp Hnh hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 BLHS.
[3] Án phí phúc thẩm: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án.
Bà Vương Thị N không phải chịu án phí phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND huyện Hạ Hòa; - TAND H. Hạ Hòa; - Công an huyện Hạ Hòa; - THADS huyện Hạ Hòa ; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚCTHẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Điêu Thị Bích Lượt |